TRUNG HỌC DUY TÂN - PHAN RANG TRUNG HỌC DUY TÂN - PHAN RANG
Nơi gặp gỡ của các Cựu Giáo Sư và Cựu Học Sinh Phan Rang - Ninh Thuận
 
 Trang BìaTrang Bìa   Photo Albums   Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Thành viênThành viên   NhómNhóm   Ghi danhGhi danh 
Kỷ Yếu  Mục Lục  Lý lịchLý lịch   Login để check tin nhắnLogin để check tin nhắn   Đăng NhậpĐăng Nhập 

CỔ THI

 
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    TRUNG HỌC DUY TÂN - PHAN RANG -> Thơ
Xem chủ đề cũ hơn :: Xem chủ đề mới hơn  
Người Post Đầu Thông điệp
MAI THO



Ngày tham gia: 20 Apr 2011
Số bài: 5760

Bài gửiGửi: Tue Sep 08, 2015 10:30 pm    Tiêu đề: CỔ THI


CỔ THI

Bấm vào để xem hình lớn hơn

Táo rừng


Các anh chị thân

Đã tháng 9 tây rồi trời vẫn nóng hầm, bỏ ra bờ sông chơi hóng mát chợt thấy hàng cây táo dại vàng ươm rực lửa, lá đã đồi mồi để chuyển qua màu đỏ mới cảm thấy thu đã về. Tối về đọc Chim Việt Cành Nam online lại thấy thi sĩ Đỗ Đình Tuân đăng tám bài thơ Thu bằng chữ Hán của thi hào Nguyễn Khuyến, đang lúc rỗi rảnh bèn dịch chơi cho đỡ nhớ nhà! Mời các anh chị cùng thưởng thức.

Thân

LB


Bài 1

秋山宵望

八靣村墟一嵿孤

纔登萬象入中都

風輕雲弄嫦娥影

霧霽天高北斗區

品物一天金世介

江山四顧玉輿圖

霜鳴何處秋声答

喚起欧陽澡思蘇

Phiên âm:

Thu Sơn tiêu vọng

Bát diện thôn khư nhất đính cô

Tài đăng vạn tượng nhập trung đô

Phong khinh vân lộng thường nga ảnh

Vụ tễ thiên cao bắc đẩu khu

Phẩm vật nhất thiên kim thế giới

Giang sơn tứ cố ngọc dư đồ

Sương minh hà xứ thu thanh đáp

Hoán khởi Âu Dương * táo tứ tô

Dịch Nghĩa:

Đêm thu đứng trên núi trông

Tám mặt xóm làng một ngọn núi trơ trọi

Vừa leo lên đã thấy hình tượng muôn vàn thu vào chính giữa

Gió nhẹ những đám mây giỡn bóng Hằng Nga

Mù tan trục bắc đẩu nhô cao trên vòm trời

Đầy trời phẩm vật như một thế giới vàng

Bốn mặt non sông như một tấm dư đồ bằng ngọc

Một tiếng sương thu từ đâu đáp lại

Gợi nhớ đến bài phú của Âu Dương khi xưa.

Dịch vần:

Đêm thu trên núi

Tám mặt xóm làng một đỉnh cao

Vừa lên trăm cảnh chợt thu vào

Mây vờn gió ghẹo vầng trăng sáng

Mù sạch trời quang bắc đẩu cao

Thế giới một bầu vàng khắp cõi

Non sông bốn mặt ngọc đồ bao

Sương rơi một tiếng thu đâu lại

Gợi nhớ Âu Dương phú thuở nào.

Đỗ Đình Tuân

Ghi chú:

*Âu Dương: tức Âu Dương Tu đời Tống (TQ) có bài phú "Tiếng thu" nổi tiếng

Đêm thu vọng

Tám hướng làng quây một núi cô

Vừa lên vạn cảnh thoáng lô xô

Mây đùa gió nhẹ cung nga chiếu

Móc tạnh trời cao bắc đẩu nhô

Phẩm vật một trời vàng thế giới

Giang sơn bốn cõi ngọc dư đồ

Sương kêu đâu đó lời thu đáp

Gợi nhớ Âu Dương viết phú xưa

Lộc Bắc

Sept2015

Bài 2

秋夜有感

山河寥落四無声

獨坐書堂看月明

何處秋風吹一葉

引來無限故園情

Phiên âm:

Thu dạ hữu cảm

Sơn hà liêu lạc tứ vô thanh

Độc tọa thư đường khán nguyệt minh

Hà xứ thu phong xuy nhất diệp

Dẫn lai vô hạn cố viên tình

Dịch Nghĩa:

Cảm xúc đêm thu

Non sông bốn mặt lặng ngắt như tờ

Một mình ngồi trong nhà học ngắm trăng sáng

Gió thu từ đâu thổi một chiếc lá đến

Khêu gợi lên biết bao mối tình nhớ nhà

Dịch vần:

Cảm xúc đêm thu

Non sông bốn mặt im lìm

Ngồi trong nhà học lặng nhìn trăng thanh

Gió thu chiếc lá lìa cành

Lòng man mác xiết bao tình nhớ quê

Đỗ Đình Tuân

Đêm thu xúc cảm

Non sông bốn hướng lặng như tờ

Phòng học một mình ngắm nguyệt mơ

Chiếc lá, gió thu đâu đến nhỉ?

Gợi buồn vô tận nhớ quê xưa

Lộc Bắc

Sept2015

Bài 3

秋夜砧聲

更深霜重晏裘輕

四顧寒砧枕畔縈

搗月高低侵角嚮

隨風斷續散虫聲

驚回戍婦襄城夢

喚起征夫魏闕情

一種幽愁消未得

遠山何處又鐘鳴

Phiên âm:

Thu dạ châm thanh

Canh thâm sương trọng án cừu khinh

Tứ cố hàn châm chẩm bạn oanh

Đảo nguyệt cao đê xâm giác hưởng

Tùy phong đoạn tục bán trùng thanh

Kinh hồi thú phụ tương thành mộng

Hoán khởi chinh phu ngụy khuyết tình

Nhất chủng u sầu tiêu vị đắc

Viễn sơn hà xứ hựu chung minh

Dịch Nghĩa:

Tiếng đập vải đêm thu

Canh khuya sương nặng áo cừu tía nhẹ

Tiếng đập vải bốn bề vang quanh bên gối

Dồn dập dưới trăng cao thấp át cả tiếng tù và

Theo làn gió đứt nối lẫn vào tiếng dế

Khua tỉnh giấc mộng Tương Thành của người thú phụ

Gợi dậy tình ngụy khuyết của kẻ chinh phu

Một thứ u sầu chưa tiêu tan được

Ở ngọn núi xa nào đó lại nghe tiếng chuông rền.

Dịch thơ:

Tiếng đập vải đêm thu

Canh khuya áo nhẹ sương dày

Nghe quanh bên gối tiếng chày gần xa

Thấp cao át tiếng tù và

Dưới trăng đứt nối lan hòa tiếng sâu

Mộng hồn thú phụ tan mau

Gợi tình ngụy khuyết mối sầu chinh phu

Khối buồn mãi chẳng tan cho

Núi xa đâu đó chuông chùa lại vang.

Đỗ Đình Tuân

Tiếng chày đêm thu

Canh khuya sương nặng áo mong manh

Chày đập bốn bên gối quẩn quanh

Dồn dập dưới trăng che kẻng rúc

Gió đưa trầm bổng dế cầm canh

Hoảng kinh vợ lính vừa nhen mộng

Khơi dậy chinh phu mối khuyết tình

Một thứ u sầu chưa xóa được

Núi xa đâu đó tiếng chuông nhanh

Lộc Bắc

Sept2015

Bài 4

甲申中秋寓河內有感

寄同年举人吳金鼓人

十年此地此中秋

城郭依依景已殊

白燭紅燈迷遠近

素冠青蓋雜誰吾

蘇江有恨濤声急

濃領無情夜月孤

夜禁近聞严肅甚

詩翁曾意舊遊不

Phiên âm:

Giáp Thân trung thu ngụ Hà Nội hữu cảm

Ký đồng niên cử nhân Ngô Kim Cổ Nhân

Thập niên thử địa thử trung thu

Thành quách y y cảnh dĩ thù

Bạch chúc hồng đăng mê viễn cận

Tố quan thanh cái tạp thùy ngô

Tô giang hữu hận đào thanh cấp

Nùng lĩnh vô tình dạ nguyệt cô

Dạ cấm cận văn nghiêm túc thậm

Thi ông tăng ý cựu du phầu

Dịch Nghĩa:

Cảm nghĩ nhân dịp tết Trung thu năm Giáp Thân (1884) ở Hà Nội viết gửi cho bạn đồng niên là ông cử họ Ngô (Người làng Kim Cổ)

Cũng tết trung thu ta ở nơi đây mười năm về trước

Thành quách còn y nguyên nhưng cảnh đã khác

Nến trắng đèn đỏ lấp loáng như gần như xa

Mũ trắng dù xanh lẫn lộn ta với người

Sông Tô như giận tiếng sóng vỗ dồn dập

Núi Nùng vô tình mảnh trăng đêm trơ trọi

Lệnh cấm đi đêm gần đây nghe nghiêm ngặt lắm

Nhà thơ có còn nhớ cuộc đi chơi trước kia không?

Dịch thơ:

Hà Nội trước tết Trung thu năm Giáp Thân (1884)

Mười năm về trước cũng nơi đây

Thành quách như xưa cảnh đổi thay

Nến trắng đèn hồng trưng đấy đó

Dù xanh khăn đỏ lẫn tao mày

Dòng Tô nuốt hận dồn cơn sóng

Ngọn Lĩnh thờ ơ lạnh áng mây

Lệnh cấm đi đêm nghiêm ngặt lắm

Trước kia ông có nhớ chăng hầy?

Đỗ Đình Tuân

Hà Nội trung thu

Mười năm thu trước, cũng nơi này.

Thành quách y nguyên, cảnh đổi thay

Nến bạc, đèn hồng xen viễn cận

Dù xanh mũ trắng lẫn tôi thầy

Sông Tô sóng hận xô dồn dập

Núi Lĩnh vô tình nguyệt hóa ngây

Lệnh cấm đi đêm giờ bỗng ngặt

Thi ông còn nhớ chuyện xưa bày?

Lộc Bắc

Sept2015

Bài 5

秋熱

已過重陽氣尚温

含杯盡日倚柴門

綠環水帯疑將束

青染天衣不見痕

風水常如五六月

雨雷遠入两三村

歸來遂我田園趣

世事搔頭笑不言

Phiên âm:

Thu nhiệt

Dĩ quá trùng dương khí thượng ôn

Hàm bôi tận nhật ỷ sài môn

Lục hoàn thủy đới nghi tương thúc

Thanh nhiễm thiên y bất kiền ngân

Phong thủy thường như ngũ lục nguyệt

Vũ lôi viến nhập lưỡng tam thôn

Uy lai toại ngã điền viên thú

Thế sự tao đầu tiếu bất ngôn

Dịch nghĩa:

Mùa thu trời nóng

Đã qua tiết trùng dương mà khí trời vẫn còn nóng

Suốt ngày chỉ ngồi tựa cửa sài uống nước

Vòng nước biếc vây quanh tưởng như cái đai thắt lại

Da trời xanh biếc như chiếc áo không thấy vết khâu

Nắng gió vẫn như ngày tháng năm tháng sáu

Tuy có mưa sấm nhưng ở tận mấy làng xa

Về nghỉ là được thỏa cái chí điền viên của ta

Còn mọi việc trên đời có nghe thấy cũng chỉ gãi đầu mỉm cười không nói.

Chú thích:

1. Trùng dương: cũng còn gọi là trùng cửu, tên một tiết, tức ngày mồng chín tháng 9 âm lịch hàng năm.

Dịch thơ:

Mùa thu nóng

Qua tiết trùng dương khí vẫn nồng

Suốt ngày tựa cửa uống rượu suông

Vây quanh dòng nước như đai thắt

Xanh biếc da trời chiếc áo nhung

Nắng gió nóng oi như giữa hạ

Sấm mưa xa mãi phía hừng đông

Trở về thỏa chí điền viên trước

Mọi việc trên đời biết cũng không.

Đỗ Đình Tuân

Thu nồng

Qua tiết trùng dương nóng vẫn hầm

Suốt ngày tựa cửa uống như vâm

Vây quanh nước biếc như đai thắt

Xanh nhạt da trời chẳng vết thâm

Nắng gió vẫn nồng như tháng hạ

Sấm mưa tuy có chốn xa xăm

Nghỉ ngơi thỏa chí điền viên nhé

Thế sự, gãi đầu, miệng nín câm!

Lộc Bắc

Sept2015

Bài 6

中秋前一日與縣尹楊君

南帮武君舟中唱歌

入夜烟波未十分

孤舟蕩漾一風薰

半空篙櫓侵江月

满坐琴歌遏白雲

劇兴未應愁此老

幽懷聊為慰諸君

近来只欲南窗卧

瀟瑟胡笳不忍聞

Phiên âm:

Trung thu tiền nhất nhật dữ huyện doãn Dương quân

Nam bang vũ quân chu trung xướng ca

Nhập dạ yên ba vị thập phân

Cô chu đãng dạng nhất phong huân

Bán không cao lỗ xâm giang nguyệt

Mãn tọa cầm ca át bạch vân

Kịch hứng vị ưng sầu thử lão

U hoài liêu vị úy chư quân

Cận lai chỉ dục nam song ngọa

Tiêu sắt hồ già bất nhẫn văn

Dịch nghĩa:

Trước hôm trung thu một ngày cùng ông huyện họ Dương

và ông bang tỉnh Nam họ Vũ nghe hát ở dưới thuyền

Lúc chập tối trên mặt sông khói mới tỏa sóng mới gợn lăn tăn

Một con thuyền dập dờn trong làn gió nhẹ

Sào và chèo cao lưng trời lấn cả sóng trên sông

Tiếng đàn hát nhộn nhịp trong tiệc làm cho đám mây trắng ngừng lại

Hứng vui quá mạnh xin chớ lấy lão làm phiền

Nỗi lòng thầm kín chỉ mong làm khuây cho các bác

Gần đây chỉ muốn nằm khểnh trước cửa sổ phía nam

Những tiếng kèn hồ buồn rứt không muốn để lọt tai.

Dịch thơ:

Trước Trung thu một ngày đi nghe hát trên sông

Chập tối mặt sông khói sóng nhen

Một cơn gió nhẹ lướt con thuyền

Lưng trời sào mái sông trăng lấn

Đàn sáo đầy thuyền mây lắng yên

Cao hứng chớ lo phiền dạ lão

Lòng riêng những muốn thỏa anh em

Lâu nay chỉ muốn nằm chơi khểnh

Những thứ kèn hồ chẳng thích xem.

Đỗ Đình Tuân

Trung thu nghe hát

Chập tối mặt sông khói sóng lan

Thuyền con nhẹ lướt gió xa gần

Ngang trời chèo mái trăng sông chiếm

Nhộn nhịp đàn ca níu bạch vân

Hứng chí cũng không vừa dạ lão

Buồn riêng mong thỏa những người thân

Gần đây chỉ muốn xuôi nam, nghỉ

Kèn sáo du dương chả thiết cần!

Lộc Bắc

Sept2015




Được sửa bởi MAI THO ngày Sat Jun 18, 2016 7:40 pm; sửa lần 2.
Về Đầu Trang
QuangBĐ



Ngày tham gia: 20 Dec 2012
Số bài: 1092

Bài gửiGửi: Sun Sep 13, 2015 3:52 pm    Tiêu đề:

Hàng cây táo dại ươm vàng rực lửa (*)
Lá rơi ngoài cửa kêu gọi thu về
Tụ tập tại đây xúc động đam mê
Vần thơ -Hán Việt- muôn đời bất diệt

Thời gian chạy trôi, chẳng gì phai biến
Thơ cổ, lời xưa, âm điệu một thời
Vang danh ngày đó suốt kiếp muôn đời
Lòng luôn rung động trước lời tiền bối

Cuộc sống bôn chen, tháng ngày qua vội
Lặng nghe, ngẫm nghĩ… xúc động bồi hồi
Hồn thưởng thức, tim lắng đọng trong tôi
Ôi ! lời thơ xưa mãi luôn bất hủ…
QuangBĐ
(*) câu mượn của tác giả trên  Wink
Về Đầu Trang
MAI THO



Ngày tham gia: 20 Apr 2011
Số bài: 5760

Bài gửiGửi: Sun Sep 27, 2015 10:08 am    Tiêu đề: Thu dạ châm thanh - Nguyễn Khuyến


Thu Dạ Châm Thanh - Nguyễn Khuyến


秋夜砧聲 - 阮勸 Thu Dạ Châm Thanh - Nguyễn Khuyến

更深霜重晏裘輕 Canh thâm sương trọng án cừu khinh,

四顧寒砧枕畔縈 Tứ cố hàn châm chẩm bạn oanh.

搗月高低侵角嚮 Đảo nguyệt cao đê xâm giác hưởng,

隨風斷續半虫聲 Tùy phong đoạn tục bán trùng thanh.

驚回戍婦襄城夢 Kinh hồi thú phụ tương thành mộng,

喚起征夫魏闕情 Hoán khởi chinh phu ngụy khuyết tình.

一種幽愁消未得 Nhất chủng u sầu tiêu vị đắc,

遠山何處又鐘鳴 Viễn sơn hà xứ hựu chung minh.

Dịch nghĩa:

Đập Vải Đêm Thu

Canh khuya sương nặng áo khoác nhẹ (1)

Bốn bề tiếng đập quanh quẩn bên gối (2)

Dưới trăng (tiếng đập vải) cao thấp át cả tiếng tù và. (3)

Theo gió đứt nối lẫn với tiếng côn trùng.

Khua tỉnh giấc mộng “Tương Thành”của người vợ lính (muốn được đoàn tụ với chồng đang chinh chiến phương xa). (4)

Gợi dậy lòng ham muốn công danh của kẻ chinh phu. (5)

Một thứ u sầu chưa tiêu tan được

Từ núi xa nào đó lại có tiếng chuông.

(1) Cừu 裘 = áo bằng da thú.

Án Cừu晏裘 = Áo của Tể Tướng Án Anh đời Chiến quốc. Vì muốn tiết kiệm nên ông mặc 1 cái áo khoác bằng da rất lâu. Về sau người ta dùng chữ “Án cừu” để chỉ sự tiết kiệm hay cảnh nghèo khó. Đỗ Mục đời Đường có thơ rằng:

“Lữ quán dạ thâm Khương bị lãnh, 旅馆夜忧姜被冷,

“Mộ giang hàn giác Án cừu khinh, 暮江寒觉晏裘轻.”

Tạm dịch: “Đêm khuya lữ quán chăn Khương lạnh,

“Rét mướt sông chiều áo Án đơn.”

Cũng là nói cảnh khốn cùng.

(2) Châm 砧 = chày bằng đá dùng để giặt quần áo.

Oanh 縈 = oanh nhiễu縈繞 = quay quanh; oanh hồi 縈回 quay vòng lại.

(3) Đảo Nguyệt 搗月 = ám chỉ trăng sáng = do câu Ngọc thố đảo dược 玉兔搗藥 = tương truyền trên mặt trăng có con thỏ trắng ngồi giã thuốc trường sinh.

Xâm 侵 = tiến dần, xâm lấn, xâm đoạt.

(4) Thú phụ 戍婦 = vợ của người lính đồn trú ở phương xa.

Tương Thành 襄城 = Thuộc tỉnh Hà Nam TH. Trước Tây lịch, Chu Tương Vương 周襄王 lánh nạn nội phản chạy ra đây và cho xây thành đắp lũy vì vậy được gọi là Tương Thành. Từ đó Tương Thành là trọng điểm giao thông và quân sự. Hạng Võ 項 羽 sau khi chiếm được Tương Thành đã hạ lệnh chôn sống tất cả những người trong thành, kể cả thứ dân già trẻ lớn bé. Sau này Hạng Vũ còn tàn sát thêm 5 lần nữa và được lịch sử TH cho là “Lục thứ đại đồ sát 六次大屠殺” của Hạng Vũ. Vào cuối đời Minh, Lý Tự Thành 李自成 khởi nghĩa, công phá Tương thành nhiều lần, giết tướng triều đình là Uông Kiều Niên 汪喬年. Người chết vô số.

Tương thành mộng 襄城夢 = Cụ Nguyễn Khuyến muốn chỉ giấc mộng của người vợ lính có chồng đi chinh chiến phương xa, muốn được đoàn tụ cùng chồng (cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?). Ngoài ra tôi không thấy còn điển tích nào khác về “Tương thành mộng”.

(5) Ngụy Khuyết 魏闕 = Cửa cao lớn trước cung điện nhà vua. Ngụy khuyết tình 情 hay ngụy khuyết tâm 心 ám chỉ lòng ham muốn công danh.

Phỏng Dịch:

Đập Vải Đêm Thu

Áo đơn sương nặng canh tà,

Tiếng chày lẫn tiếng tù và trùng thanh.

Bốn bề vang vọng loanh quanh,

Gió đưa bên gối trăng thanh mơ màng.

Chinh phụ tỉnh giấc mộng vàng,

Chinh phu khơi động sa tràng công danh.

U sầu còn đọng trong mành,

Núi xa đâu đó chuông lành ngân vang.

HHD


Tiếng Chày Đêm Thu

Canh khuya sương nặng áo mong manh

Chày đập bốn bên gối quẩn quanh

Dồn dập dưới trăng che kẻng rúc

Gió đưa trầm bổng dế cầm canh

Hoảng kinh vợ lính vừa nhen mộng

Khơi dậy chinh phu mối khuyết tình

Một thứ u sầu chưa xóa được

Núi xa đâu đó tiếng chuông nhanh

Lộc Bắc

Sept2015

Đêm Thu Đập Vải

Áo mỏng canh khuya sương nặng rơi

Bốn bề gối đập vọng đầy vơi

Dưới trăng còi rúc nghe cao thấp

Trên gió trùng kêu thật rã rời

Tỉnh mộng đoàn viên người chiến phụ

Dậy lòng khơi động kẻ chinh phu

U sầu một cõi sao tiêu được

Có tiếng chuông ngân tự cõi mù

Bá Nha

26/09/2015

Đập Vải Đêm Thu

Đêm trường sương nặng áo mong manh

Gối chiếc mơ màng  tiếng chậm nhanh

Tù và trầm bỗng  trăng thu lạnh

Côn trùng hòa nhịp tiếng đêm thanh

Tương Thành chinh phụ tàn cơn mộng

Xương trắng công hầu đuổi lợi danh

Một khối u tình sao khó dứt

Núi xa chuông vẳng điểm tàn canh

Thanh Lam

(27-09-15)


Về Đầu Trang
MAI THO



Ngày tham gia: 20 Apr 2011
Số bài: 5760

Bài gửiGửi: Wed Oct 28, 2015 9:38 am    Tiêu đề: Thu Nhiệt - Nguyễn Khuyến


Thu Nhiệt - Nguyễn Khuyến


秋熱 - 阮勸 Thu Nhiệt - Nguyễn Khuyến

已過重陽氣尚温 Dĩ quá trùng dương khí thượng ôn,

含杯盡日倚柴門 Hàm bôi tận nhật ỷ sài môn.

綠環水帯疑將束 Lục hoàn thủy đái nghi tương thúc,

青染天衣不見痕 Thanh nhiễm thiên y bất kiến ngân.

風水常如五六月 Phong thủy thường như ngũ lục nguyệt,

雨雷遠入两三村 Vũ lôi viễn nhập lưỡng tam thôn.

歸來遂我田園趣 Quy lai toại ngã điền viên thú,

世事搔頭笑不言 Thế sự tao đầu tiếu bất ngôn.

Dịch Nghĩa:

Đã qua tiết trùng dương mà không khí vẫn còn nóng bức (1)

Suốt ngày tựa cửa mộc mạc ngậm ly (uống nước). (2)

Giải nước biếc vòng vo như thắt lại, (3)

Da trời nhuộm xanh không thấy ngấn vết. (4)

Nước gió (thời tiết) vẫn như ngày tháng năm tháng sáu, (5)

Mưa sấm rơi xuống vài ba làng xa.

Về lại (quê) thỏa cái thú điền viên của tôi,

Mọi việc trên đời (chỉ) gãi đầu mỉm cười không nói.

Chú thích:

1. (Tiết) Trùng dương 重陽: vào ngày mồng 9 tháng 9 âm lịch vì vậy còn gọi là

tiết Trùng cửu. Những tên khác là Tiết Kính lão, Đạp thu, Cúc hoa, Đăng cao...

2. Hàm 含: ngậm; Sài 柴: củi để đun bếp; Sài môn柴門: khung cửa dùng gỗ

vụn, gỗ tầm thường chắp thành, chỉ cảnh nghèo khó mộc mạc.

3. Lục hoàn 綠環: vòng mầu xanh; Đái: cái thắt lưng; Thủy đái 水帯: giải nước, dòng nước; Cổ thi có câu: Thủy đái bích đào hoa loạn lưu 水带碧桃花亂流 = Hoa đào loạn trôi theo dòng nước; Thúc 束: buộc, bó.

4. Thiên y 天衣: da trời; Thanh nhiễm thiên y 青染天衣 hoặc thiên y nhiễm lam 天衣染藍: có nghĩa là da trời mầu xanh.

5. Phong thủy 風水: Trong bài này tác giả dùng chữ “phong thủy” đối với chữ “vũ lôi” ở câu dưới vì vậy phong thủy chỉ có nghĩa đen là “gió và nước” hay nghĩa bóng là thời tiết mà thôi. Ngoài ra phong thủy còn là Khoa xem phương hướng mồ mả, nhà ở, cơ sở thương mại... để mang đến mọi điều tốt lành, ngày xưa gọi là khoa Địa lý.

Tạm Dịch:

Thu Nóng

Đã quá Trùng dương trời vẫn nồng,

Ngậm ly tựa cửa suốt ngày trông.

Uốn cong dòng biếc như thắt lại,

Xanh thẳm da trời không vết nhăn.

Tháng hạ vẫn còn cơn nắng gió,

Làng xa đổ xuống trận mưa giông.

Về đây toại nguyện thú vườn tược,

Thế sự gãi đầu cười mỉm suông.

HHD

Thu nồng

Qua tiết trùng dương nóng vẫn hầm

Suốt ngày tựa cửa uống như vâm

Vây quanh nước biếc như đai thắt

Xanh nhạt da trời chẳng vết thâm

Nắng gió vẫn nồng như tháng hạ

Sấm mưa tuy có chốn xa xăm

Nghỉ ngơi thỏa chí điền viên nhé

Thế sự, gãi đầu, miệng nín câm!

Lộc Bắc

Oct2015

Thu nóng

Sau tết trùng dương nóng quá trời

Cả ngày tựa cửa nhấp đầy vơi

Quanh co nước biếc cong dòng thắt

Phẳng lặng trời xanh chẳng thấy hơi

Nắng gió ươm nồng như tháng hạ

Mưa giông tuôn đổ chỗ xa xôi

Quê nhà hưởng thú điền viên nghỉ

Mọi việc, gãi đầu, cười thế thôi

Bá Nha 29/10/2015


Về Đầu Trang
MAI THO



Ngày tham gia: 20 Apr 2011
Số bài: 5760

Bài gửiGửi: Fri May 27, 2016 6:20 pm    Tiêu đề: Sơn Cư Mạn Hứng - Nguyễn Du


Sơn Cư Mạn Hứng - Nguyễn Du

Bấm vào để xem hình lớn hơn

Tượng "ĐTH Nguyễn Du"


山居漫興 - 阮攸 Sơn Cư Mạn Hứng - Nguyễn Du

南去長安千里餘, Nam khứ Trường An thiên lý dư,

群峰深處野人居。 Quần phong thâm xứ dã nhân cư.

柴門晝靜山雲閉, Sài môn trú tĩnh sơn vân bế,

藥圃春寒隴竹疏。 Dược phố xuân hàn lũng trúc sơ.

一片鄉心蟾影下, Nhất phiến hương tâm thiềm ảnh hạ,

經年別淚雁聲初。 Kinh niên biệt lệ nhạn thanh sơ.

故鄉弟妹音耗絕, Cố hương đệ muội âm hao tuyệt,

不見平安一紙書。 Bất kiến bình an nhất chỉ thư.

Dịch nghĩa

Hơn nhàn dặm ở phía nam tỉnh Trường An, (1)

Sâu trong dãy núi có người dân quê ở. (2)

Mây núi che kín cánh cửa gỗ lúc ban ngày yên tĩnh. (3)

Vườn thuốc mùa xuân lạnh lẽo, gò trúc thưa thớt. (4)

Một tấm lòng nhớ quê hương dưới bóng trăng,

Nước mắt cách biệt kinh niên cùng với tiếng nhạn mới về.

không hề có tin tức của em trai và em gái nơi cố hương, (5)

Không nhận được một lá thư báo tin bình an. (6)

Chú thích:

(1) Phỏng theo 1 câu thơ của Sầm Than岑參, đời thịnh Đường: Đông khứ Trường An vạn lý dư東去長安萬裏餘 = đi về phía đông tỉnh Trường An hơn vạn dặm.

(2) Dã nhân=dân quê, thí dụ: triều dã=triều đình và dân gian; Người ở nơi hoang dã.

(3) Sài môn=cánh cửa chắp nối bằng gỗ vụn. Trú=ban ngày

(4) Lũng=tên đất; tên tỉnh Cam Túc, TH. Gò đống. Lũng trúc =trúc trên gò, đối với chữ sơn vân (mây trên núi).

(5) Âm hao=tin tức

(6) nhất chỉ thư=một lá thư; chỉ=giấy

Tạm Dịch

Sơn Cư Mạn Hứng

Xa hơn nghìn dặm nam Trường An,

Có gã dân quê giữa núi ngàn.

Ngày tĩnh cửa sài mây núi phủ,

Trúc thưa vườn thuốc tiết xuân hàn.

Lòng quê một tấm trăng soi bóng,

Lệ biệt muôn năm nhạn gọi đàn.

Làng cũ các em tin tức bặt,

Tuyệt không phong tín báo bình an.

Hồ Hoàng Điệp


Về Đầu Trang
MAI THO



Ngày tham gia: 20 Apr 2011
Số bài: 5760

Bài gửiGửi: Sun May 29, 2016 7:11 pm    Tiêu đề: Sơn Cư Mạn Hứng - Nguyễn Du


Sơn Cư Mạn Hứng - Nguyễn Du

Bấm vào để xem hình lớn hơn

Tượng "ĐTH Nguyễn Du"


山居漫興 - 阮攸 Sơn Cư Mạn Hứng - Nguyễn Du

南去長安千里餘, Nam khứ Trường An thiên lý dư,

群峰深處野人居。 Quần phong thâm xứ dã nhân cư.

柴門晝靜山雲閉, Sài môn trú tĩnh sơn vân bế,

藥圃春寒隴竹疏。 Dược phố xuân hàn lũng trúc sơ.

一片鄉心蟾影下, Nhất phiến hương tâm thiềm ảnh hạ,

經年別淚雁聲初。 Kinh niên biệt lệ nhạn thanh sơ.

故鄉弟妹音耗絕, Cố hương đệ muội âm hao tuyệt,

不見平安一紙書。 Bất kiến bình an nhất chỉ thư.

Dịch nghĩa

Hơn nhàn dặm ở phía nam tỉnh Trường An, (1)

Sâu trong dãy núi có người dân quê ở. (2)

Mây núi che kín cánh cửa gỗ lúc ban ngày yên tĩnh. (3)

Vườn thuốc mùa xuân lạnh lẽo, gò trúc thưa thớt. (4)

Một tấm lòng nhớ quê hương dưới bóng trăng,

Nước mắt cách biệt kinh niên cùng với tiếng nhạn mới về.

không hề có tin tức của em trai và em gái nơi cố hương, (5)

Không nhận được một lá thư báo tin bình an. (6)

Chú thích:

(1) Phỏng theo 1 câu thơ của Sầm Than岑參, đời thịnh Đường: Đông khứ Trường An vạn lý dư東去長安萬裏餘 = đi về phía đông tỉnh Trường An hơn vạn dặm.

(2) Dã nhân=dân quê, thí dụ: triều dã=triều đình và dân gian; Người ở nơi hoang dã.

(3) Sài môn=cánh cửa chắp nối bằng gỗ vụn. Trú=ban ngày

(4) Lũng=tên đất; tên tỉnh Cam Túc, TH. Gò đống. Lũng trúc =trúc trên gò, đối với chữ sơn vân (mây trên núi).

(5) Âm hao=tin tức

(6) nhất chỉ thư=một lá thư; chỉ=giấy

Tạm Dịch

Sơn Cư Mạn Hứng

Xa hơn nghìn dặm nam Trường An,

Có gã dân quê giữa núi ngàn.

Ngày tĩnh cửa sài mây núi phủ,

Trúc thưa vườn thuốc tiết xuân hàn.

Lòng quê một tấm trăng soi bóng,

Lệ biệt muôn năm nhạn gọi đàn.

Làng cũ các em tin tức bặt,

Tuyệt không phong tín báo bình an.

Hồ Hoàng Điệp


Ở NÚI CẢM HỨNG

Nghìn dặm Trường An ở phương nam

Ngụ gã dân quê dưới núi ngàn

Tịch mịch cửa sài mây phủ kín

Lơ thơ trúc lạnh thuốc vườn xuân

Nhớ quê một dạ trăng đơn bóng

Lệ cách muôn năm vẳng nhạn than

Quê cũ hai em tin vẫn bặt

Không thư chẳng biết có bình an

SVĐG


Sơn cư mạn hứng

Trường An nghìn dặm tận phương nam

Có kẻ nhà quê ẩn núi ngàn

Cửa gỗ im lìm mây chắn lối

Lưa thưa trúc rũ lạnh vườn hoang

Vầng trăng in bóng lòng ngơ ngẩn

Tiếng nhạn sầu vương ngấn lệ loang

Quê cũ các em tin chẳng rõ

Trông thư nào có biết bình an

Bá Nha


LỜI NGƯỜI Ở  NÚI

Xa xôi nghìn dặm tận trời  nam .

Hoang dã người quê ở núi ngàn .

Cửa nhà mây phủ  không thấy ngõ ,

Trúc xanh che khuất mảnh vườn hoang .

Nhớ quê nghìn nỗi trăng lồng bóng ,

Thương nhà trăm mối tiếng nhạn than .

Hai em xa vắng tin nào thấy ,

vò võ chờ thơ báo bình an.
       

Bạch Nga


Về Đầu Trang
MAI THO



Ngày tham gia: 20 Apr 2011
Số bài: 5760

Bài gửiGửi: Fri Jun 17, 2016 2:54 pm    Tiêu đề: Thu Dạ Cùng Thanh - Nguyễn Khuyến


Thu Dạ Cùng Thanh - Nguyễn Khuyến

Bấm vào để xem hình lớn hơn

Thổi "tù và"


秋夜蛩聲 - 阮勸 Thu Dạ Cùng Thanh - Nguyễn Khuyến

一天星斗夜沉沉,Nhất thiên tinh đẩu dạ trầm trầm,

乍頂聲聲思不禁。Sạ đính thanh thanh tứ bất câm.

隔竹高低敲丙枕,Cách trúc cao đê xao bính chẩm,

和霜斷續瀉滄音。Hoà sương đoạn tục tả thương âm.

愁侵角戍三更月,Sầu xâm giác thú tam canh nguyệt,

喚起鄉閨萬里心。Hoán khởi hương khuê vạn lý tâm.

銷鐵橫秋男子操,Tiêu thiết hoành thu nam tử tháo,

丁寧莫使入人深。Đinh ninh mạc sử nhập nhân thâm.

Dịch Nghĩa:

Tiếng Dế Đêm Thu

Một trời đầy sao đêm thăm thẳm,

Bỗng có điệu thanh âm nổi ran lên không ngừng. (1)

Cách hàng trúc (thanh âm) cao thấp đập vào gối (2)

Hòa với sương đứt nối nhỏ xuống tạo thành âm hưởng lạnh lẽo. (3)

Cái sầu xâm nhập tiếng tù và của lính thú lúc canh ba. (4)

Gợi lên lòng nhớ gia thất (của người lính thú) từ nơi xa xăm. (5)

Tiết tháo của người nam nhi ngập khung trời thu, làm tiêu chảy cả sắt. (6)

Luôn luôn nhắc nhở không để cho (cái sầu) vào sâu (lòng) người. (7)

Chú Thích:

(1) sạ乍= chợt.

đính頂=đỉnh=rất cao, chỗ cao nhất.

thanh thanh tứ聲聲思=thanh âm có ý vị-trong bài Tỳ bà Hành của Bạch Cư Dị có câu: “Huyền huyền yểm ức thanh thanh tứ絃絃掩抑聲聲思” mà Phan Huy Vịnh dịch là: “Nghe não nuột mấy dây buồn bực”.

bất câm不禁=bất cấm=không đè nén được, không ức chế được.

(2) xao敲=gõ, đập.

cao đê高低=cao thấp.

bính丙=có nhiều nghĩa.

a/là can thứ 3 trong 10 thiên can, dùng đếm năm, ngày, tháng như bính tý 丙子, bính tuất丙戍.

b/thứ 3 như bính đẳng丙等=hàng thứ 3, bính dạ丙夜=canh 3 tức nửa đêm.

c/đuôi cá.

d/bính chủng xạ tuyến丙种射线=tia phóng xạ gamma.

e/lửa như: bính đinh thần丙丁神=thần lửa, phó bính付丙=cho vào lửa=đốt đi (ngụ ý bảo mật).

f/ bính hướng丙向=hướng nam.

g/bính luân丙綸=polypropylene, sợi cước hóa học dùng để dệt thảm, đan lưới.

h/bính ty丙絲=sợi, tơ hóa học.

chẩm=cái gối đầu, xương ót.

bính chẩm丙枕=cái gối đầu khi ngủ. Có thể do một câu nói của vua Đường Thái Tông được lưu truyền là: “trẫm tư thiên hạ sự, bính dạ bất an chẩm朕思天下事, 丙夜不安枕” Trẫm nghĩ việc thiên hạ, nên ban đêm gối đầu ngủ không yên. Tôi không tìm được tài liệu nào giải thích chữ này hợp lý hơn.

bính chẩm ưu丙枕憂=cái lo bên gối=cái lo canh cánh bên lòng.

(3) đoạn tục= đứt lại nối.

tả=nước chảy xuống; bệnh thổ tả.

thương滄=xanh lam, xanh lục đậm, lạnh lẽo, mênh mông (khác với chữ thương của ngũ âm= Cung 宮 Thương 商 Giốc 角 Chủy 徵 Vũ 羽) ;

thương âm滄音=âm thanh lạnh lẽo (ngụ ý buồn)

(4) xâm侵=tiến dần, xâm lấn.

giác thú角戍=tù và của lính thú.

(5) Hoán khởi喚起=gợi, khơi lên.

hương khuê鄉閨=gia thất ở quê nhà.

vạn lý tâm萬里心=tấc lòng vạn lý, lòng thương nhớ từ nơi xa xăm.

(6) Tiêu thiết銷鐵=nung chảy sắt.

Tiêu thiết kiếm銷鐵劍=kiếm sắc chém sắt như chém bùn.

hoành thu橫秋= tràn ngập không gian mùa thu, hình dung khí thế rất hưng thịnh, cũng ví với đôi mắt của mỹ nhân.

nam tử tháo男子操=tiết tháo, ý chí của người nam nhi.

(7) Đinh ninh丁寧=dặn bảo kỹ càng (khác với chữ đinh ninh 叮嚀người Việt thường dùng với nghĩa khăng khăng nghĩ rằng, một mực cho rằng...).

mạc sử莫使=chớ để.

thâm深=sâu.

Tạm Dịch:

Tiếng Dế Đêm Thu

Trời đêm tinh tú trầm trầm,

Chợt nghe rộn rã thanh âm não nùng.

Thấp cao cách trúc không dừng,

Gõ quanh bên gối hòa cùng giọt sương.

Ngập ngừng nhỏ xuống thê lương,

Tù và - lính thú canh trường buồn lây.

Quê hương gợi nhớ khôn khuây,

Nam nhi chí khí ngập đầy trời thu,

Nấu nung sắt chảy mịt mù,

Kỹ càng chớ để lòng ru nỗi sầu.

Hồ Hoàng Điệp


Về Đầu Trang
phuongduyen



Ngày tham gia: 26 Apr 2012
Số bài: 864

Bài gửiGửi: Sat Jun 18, 2016 2:34 am    Tiêu đề:

 Xin phép các anh chị

              Đêm thu tinh tú trầm trầm
          Lắng nghe tỉnh mịch thanh âm não nùng
              Trời xanh cao thấp không dừng
          Lối về quanh quẫn mơ hồ giọt sương
              Bước chân gõ nhịp thê lương
          Tiếng còi lính thú đêm trường buồn lây
               Quê nhà gợi nhớ khôn khuây
          Nước Nam anh hùng ngập đầy trời thu
                Lòng ta nung nấu mịt mù
          Hoài về cố Quốc lòng ru nỗi sầu ...
         
          PD


Về Đầu Trang
MAI THO



Ngày tham gia: 20 Apr 2011
Số bài: 5760

Bài gửiGửi: Sat Jun 18, 2016 2:04 pm    Tiêu đề: Thu Dạ Cùng Thanh - Nguyễn Khuyến


Thu Dạ Cùng Thanh - Nguyễn Khuyến

Bấm vào để xem hình lớn hơn

Thổi "tù và"


秋夜蛩聲 - 阮勸 Thu Dạ Cùng Thanh - Nguyễn Khuyến

一天星斗夜沉沉,Nhất thiên tinh đẩu dạ trầm trầm,

乍頂聲聲思不禁。Sạ đính thanh thanh tứ bất câm.

隔竹高低敲丙枕,Cách trúc cao đê xao bính chẩm,

和霜斷續瀉滄音。Hoà sương đoạn tục tả thương âm.

愁侵角戍三更月,Sầu xâm giác thú tam canh nguyệt,

喚起鄉閨萬里心。Hoán khởi hương khuê vạn lý tâm.

銷鐵橫秋男子操,Tiêu thiết hoành thu nam tử tháo,

丁寧莫使入人深。Đinh ninh mạc sử nhập nhân thâm.

Dịch Nghĩa:

Tiếng Dế Đêm Thu

Một trời đầy sao đêm thăm thẳm,

Bỗng có điệu thanh âm nổi ran lên không ngừng. (1)

Cách hàng trúc (thanh âm) cao thấp đập vào gối (2)

Hòa với sương đứt nối nhỏ xuống tạo thành âm hưởng lạnh lẽo. (3)

Cái sầu xâm nhập tiếng tù và của lính thú lúc canh ba. (4)

Gợi lên lòng nhớ gia thất (của người lính thú) từ nơi xa xăm. (5)

Tiết tháo của người nam nhi ngập khung trời thu, làm tiêu chảy cả sắt. (6)

Luôn luôn nhắc nhở không để cho (cái sầu) vào sâu (lòng) người. (7)

Chú Thích:

(1) sạ乍= chợt.

đính頂=đỉnh=rất cao, chỗ cao nhất.

thanh thanh tứ聲聲思=thanh âm có ý vị-trong bài Tỳ bà Hành của Bạch Cư Dị có câu: “Huyền huyền yểm ức thanh thanh tứ絃絃掩抑聲聲思” mà Phan Huy Vịnh dịch là: “Nghe não nuột mấy dây buồn bực”.

bất câm不禁=bất cấm=không đè nén được, không ức chế được.

(2) xao敲=gõ, đập.

cao đê高低=cao thấp.

bính丙=có nhiều nghĩa.

a/là can thứ 3 trong 10 thiên can, dùng đếm năm, ngày, tháng như bính tý 丙子, bính tuất丙戍.

b/thứ 3 như bính đẳng丙等=hàng thứ 3, bính dạ丙夜=canh 3 tức nửa đêm.

c/đuôi cá.

d/bính chủng xạ tuyến丙种射线=tia phóng xạ gamma.

e/lửa như: bính đinh thần丙丁神=thần lửa, phó bính付丙=cho vào lửa=đốt đi (ngụ ý bảo mật).

f/ bính hướng丙向=hướng nam.

g/bính luân丙綸=polypropylene, sợi cước hóa học dùng để dệt thảm, đan lưới.

h/bính ty丙絲=sợi, tơ hóa học.

chẩm=cái gối đầu, xương ót.

bính chẩm丙枕=cái gối đầu khi ngủ. Có thể do một câu nói của vua Đường Thái Tông được lưu truyền là: “trẫm tư thiên hạ sự, bính dạ bất an chẩm朕思天下事, 丙夜不安枕” Trẫm nghĩ việc thiên hạ, nên ban đêm gối đầu ngủ không yên. Tôi không tìm được tài liệu nào giải thích chữ này hợp lý hơn.

bính chẩm ưu丙枕憂=cái lo bên gối=cái lo canh cánh bên lòng.

(3) đoạn tục= đứt lại nối.

tả=nước chảy xuống; bệnh thổ tả.

thương滄=xanh lam, xanh lục đậm, lạnh lẽo, mênh mông (khác với chữ thương của ngũ âm= Cung 宮 Thương 商 Giốc 角 Chủy 徵 Vũ 羽) ;

thương âm滄音=âm thanh lạnh lẽo (ngụ ý buồn)

(4) xâm侵=tiến dần, xâm lấn.

giác thú角戍=tù và của lính thú.

(5) Hoán khởi喚起=gợi, khơi lên.

hương khuê鄉閨=gia thất ở quê nhà.

vạn lý tâm萬里心=tấc lòng vạn lý, lòng thương nhớ từ nơi xa xăm.

(6) Tiêu thiết銷鐵=nung chảy sắt.

Tiêu thiết kiếm銷鐵劍=kiếm sắc chém sắt như chém bùn.

hoành thu橫秋= tràn ngập không gian mùa thu, hình dung khí thế rất hưng thịnh, cũng ví với đôi mắt của mỹ nhân.

nam tử tháo男子操=tiết tháo, ý chí của người nam nhi.

(7) Đinh ninh丁寧=dặn bảo kỹ càng (khác với chữ đinh ninh 叮嚀người Việt thường dùng với nghĩa khăng khăng nghĩ rằng, một mực cho rằng...).

mạc sử莫使=chớ để.

thâm深=sâu.

Tạm Dịch:

Tiếng Dế Đêm Thu

Trời đêm tinh tú trầm trầm,

Chợt nghe rộn rã thanh âm não nùng.

Thấp cao cách trúc không dừng,

Gõ quanh bên gối hòa cùng giọt sương.

Ngập ngừng nhỏ xuống thê lương,

Tù và - lính thú canh trường buồn lây.

Quê hương gợi nhớ khôn khuây,

Nam nhi chí khí ngập đầy trời thu,

Nấu nung sắt chảy mịt mù,

Kỹ càng chớ để lòng ru nỗi sầu.

Hồ Hoàng Điệp


Tiếng Dế Đêm Thu

Đêm sâu thăm thẳm vạn vì sao

Rộn rã âm vang dạ muốn trào

Trầm bổng bờ tre khuya gối mộng

Sương hòa dứt nối lạnh nao nao

Ba canh sầu át còi chinh chiến

Khắc khoải thê nhi tự thuở nào

Chí khí nam nhi ngang ngọn giáo

Cầm lòng chớ để sắt son chao

Bá Nha

17/06/2016

ĐÊM THU NGHE TIẾNG DẾ THAN

Sao đêm lấp lánh khung trời ,

Buồn nghe tiếng vọng buông lơi não nùng

Âm vang thê thiết không ngưng...

Hòa chung giọt lệ bi hùng thê lương,

Tù và buồn lại thêm buồn

Lòng đau nhớ mãi quê hương ngậm ngùi

Nam nhi chí khí ngất trời

Dặn lòng chớ để bùi ngùi xót xa

Kiếm sắt chống đỡ sơn hà ,

tấc lòng vạn lý gởi tràn phương thu .

          BACH NGA

Đêm Thu Tiếng Dế

Tinh tú đầy trời đêm lắng sâu

Chợt ran buồn bã tiếng lao xao

Gối tre dìu dặt thanh cao thấp

Âm thảm hòa sương đứt nối mau

Còi thét sầu vương đêm quá nửa

Nhớ về quê quán xót lòng nhau

Nam nhi tiết tháo nung gươm chảy

Cương quyết giữ thân chẳng nhuốm sầu!

Lộc Bắc

19/06/16



Về Đầu Trang
MAI THO



Ngày tham gia: 20 Apr 2011
Số bài: 5760

Bài gửiGửi: Sun Jul 17, 2016 9:05 am    Tiêu đề: Đối tửu - Nguyễn Du



Đối tửu - Nguyễn Du


      對酒 - 阮攸 Đối tửu - Nguyễn Du

      趺坐閒窗醉眼開, Phu tọa nhàn song tuý nhãn khai,
      落花無數下蒼苔。 Lạc hoa vô số há thương đài.
      生前不盡樽中酒, Sinh tiền bất tận tôn trung tửu,
      死後誰澆墓上杯。 Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi?
      春色漸遷黃鳥去, Xuân sắc tiệm thiên hoàng điểu khứ,
      年光暗逐白頭來。 Niên quang ám trục bạch đầu lai.
      百期但得終朝醉, Bách kỳ đãn đắc chung triêu tuý,
      世事浮雲真可哀。 Thế sự phù vân chân khả ai.

      Dịch nghĩa :

      Ngồi xếp bằng bên cửa sổ nhàn hạ, mắt say mở, (1)
      Hoa rơi vô số xuống rêu xanh. (2)
      Lúc sống không (uống) cạn chén rượu (3),
      Chết rồi, ai (cầm) cái ly để trên nấm mồ mà rưới? (được hiểu là rưới lên mộ) (4)
      Sắc xuân thay đổi dần, chim vàng bay đi, (5)
      Năm tháng ngầm thúc dục, đầu bạc đã đến. (6)
      Trăm năm, chỉ được suốt ngày say, (7)
      Thế sự (như) mây nổi, thật đáng buồn.

      Chú thích:

      (1) phu tọa = ngồi xếp bằng, ngồi kiết già.
      (2) Phỏng theo 1 câu thơ của Triệu Quỳ趙葵 đời Tống:
      落花無數點蒼苔 lạc hoa vô số điểm thương đài.
      (3) Tôn = cái chén uống rượu, cái chai.
      (4) Kiêu= rưới, tưới; mộ thượng bôi = cái ly để trên nấm mồ. (chữ “mộ thượng bôi” ở câu 4 đối với chữ “tôn trung tửu” của câu 3)
      (Chú ý: chữ “bất=chẳng”, phủ nhận trợ động từ, ở câu 3 đối với chữ “thùy=ai”, nghi vấn đại danh từ ở câu 4, gây lúng túng cho người muốn dịch sát nghĩa bằng thơ Đường luật)
      (5) Tiệm thiên=dần dần thay đổi.
      (6) Niên quang=nói về thời gian.
      Ám trục=ngầm đuổi.
      (7) bách kỳ= đời người, do câu nhân sinh bách tuế vi kỳ人生百嵗為期 =đời người hạn kỳ 1 trăm năm, hoặc câu bách niên viết kỳ di百年曰期頤 =1 trăm năm là hạn kỳ của đời sống.
      Chung triêu = có 2 nghĩa: suốt buổi sáng, cũng được hiểu là suốt ngày (chỉnh thiên 整天, chung nhật終日, theo Hán Điển)

      Tạm Dịch:

      (1)
      Xếp bằng bên cửa mắt mơ say,
      Hoa rụng xuống rêu xanh điểm đầy.
      Chai rượu lúc sinh tu chẳng cạn,
      Mộ phần khi tử rưới còn ai?
      Mầu xuân dần nhạt chim vàng biến,
      Thời khắc ngầm xui tóc bạc phai.
      Bách tuế suốt ngày say túy lúy,
      Chuyện đời mây nổi đáng buồn thay.

      (2)
      Xếp bằng bên cửa mắt say,
      Hoa rơi vô số phủ đầy rêu xanh.
      Rượu ly chẳng cạn lúc sinh,
      Chết rồi nấm mộ ai đành rưới đây?
      Sắc xuân dần nhạt chim bay,
      Thời gian thôi thúc tóc mây bạc mầu.
      Trăm năm mong được say lâu,
      Chuyện đời mây nổi nỗi sầu không phai.

      HHD


      Đối Tửu

      1-

      Ngồi chơi bên cửa mắt mờ cay
      Hoa rụng trên rêu phủ lớp đầy
      Lúc sống rượu chai không uống cạn
      Chết rồi ai tưới mộ dùm đây?
      Sắc xuân dần nhạt chim vàng khuất
      Năm tháng dục ngầm tóc trắng phai
      Được cái trăm năm say túy lúy
      Mây trôi thế sự đáng buồn thay!

      2-

      Ngồi chơi bên cửa mắt cay
      Thềm rêu hoa rụng lấp đầy sắc xanh
      Rượu không cạn chén lúc sinh
      Chết rồi ai rưới mộ mình dùm đây
      Mùa Xuân dần nhạt, chim bay
      Thời gian dục dã tóc tai đổi mầu
      Trăm năm uống suốt giải sầu
      Chuyện đời mây nổi chìm sâu nỗi buồn!

      Lộc Bắc
      Jul2016



Về Đầu Trang
hannguyen



Ngày tham gia: 29 Mar 2013
Số bài: 202

Bài gửiGửi: Sun Jul 17, 2016 7:41 pm    Tiêu đề:


Kính chào quí Văn, Thi hữu.
Xin phép được đóng góp với quí vị một chút cho vui .
Mạn phép hoạ hai bài thơ của Thi hữu  Lộc Bắc.
Nếu có gì không phải kính mong thứ lỗi
NguyễnTâmHàn
**********


Trước rượu

1-
Bên cửa khoanh chân nhướng mắt cay
Thềm rêu hoa rớt phủ giăng đầy
Còn sinh rượu đó ta tu đấy
Hết kiếp mộ nào kẻ tưới đây  ?
Xuân thắm đang lui chim chóc khuất
Năm chồng đã điểm tóc sương phai
Trăm năm nếu có dường say khướt
Thế sự mây trời , thật thảm thay

2-
Bên song nhướng mắt còn cay
Hoa rơi phủ ngập thềm đầy rêu xanh
Say sưa cho trọn kiếp sinh
Mộ khô ai kẻ thương mình tưới đây  ?
Xuân tàn én đã xa bay
Thời gian phủ xuống tóc phai nhạt mầu
Đời trăm năm, rượu giải sầu
Thế tình mây dạt trũng sâu kiếp buồn

NguyễnTâmHàn

_________________
Chút niềm vui cho mình, cho người
Về Đầu Trang
MAI THO



Ngày tham gia: 20 Apr 2011
Số bài: 5760

Bài gửiGửi: Fri Oct 28, 2016 9:50 am    Tiêu đề: Thu Thành Vãn Vọng



Thu Thành Vãn Vọng


      秋城晚望-阮飛卿 Thu Thành Vãn Vọng-Nguyễn Phi Khanh
      木落都城九月天,Mộc lạc đô thành cửu nguyệt thiên,
      斜陽罩地截雲煙。Tà dương tráo địa tiệt vân yên.
      離鴻遠遠迎風陣,Ly hồng viễn viễn nghênh phong trận,
      隙月涓涓隔樹懸。Khích nguyệt quyên quyên cách thụ huyền.
      吟興四時秋易感,Ngâm hứng tứ thời thu dị cảm,
      人生萬事老堪憐。Nhân sinh vạn sự lão kham liên.
      兵戈況復彫殘後,Binh qua huống phục điêu tàn hậu,
      遙望晴旻一慨然。Dao vọng tình mân nhất khái nhiên.

      Dịch nghĩa:

      Chiều mùa thu ở đô thành ngắm cảnh.
      Đô thành lá cây tàn rụng, trời tháng chín, (1)
      Nắng chiều trùm mặt đất cắt khói mây.
      Xa xa đàn chim hồng ra đi bay đón cơn gió,
      Ánh trăng trong sáng xuyên kẽ lá (2) (vầng trăng) treo cách ngọn cây. (3)
      Hứng ngâm thơ trong bốn mùa, mùa thu rất dễ cảm,
      Muôn việc trong đời người, tuổi già thì buồn bã. (4)
      Sau cơn binh đao lại thêm cảnh điêu tàn, (5)
      Trông xa trời tạnh ngậm ngùi thay! (6)

      (1) Mộc Lạc木落: lá cây tàn rụng.
      (2) Khích nguyệt隙月: ánh trăng xuyên qua kẽ hở.
      Quyên quyên涓涓: hình dung nước chảy chậm chậm nhè nhẹ; hình dung trong sáng thuần khiết; mới mẻ trong sáng.
      (3) Huyền懸: treo.
      (4) Kham liên 堪憐: lão cảnh kham liên. 老景堪怜= cảnh già buồn bã, thê lương.
      (5) Huống phục況复: thêm vào, lại thêm.
      (6) Mân旻: trời, thiên không, đặc biệt chỉ trời mùa thu.

      Phỏng Dịch:

      Ngắm Cảnh Chiều Thu

      Tháng chín thành đô lá rụng đầy,
      Nắng chiều phủ đất cách trời mây.
      Chim hồng lìa phố vờn cơn gió,
      Trăng sáng xuyên cành chiếu ngọn cây.
      Ngâm hứng bốn mùa thu dễ cảm,
      Ở đời muôn việc lão buồn vây.
      Điêu tàn cảnh sắc sau chinh chiến,
      Xa ngắm trời quang cảm khái thay.

      HHD



Về Đầu Trang
hannguyen



Ngày tham gia: 29 Mar 2013
Số bài: 202

Bài gửiGửi: Mon Oct 31, 2016 9:09 pm    Tiêu đề:

Xin được góp ít vần chung vui
***

Trong thành ngắm cảnh Thu
*
Lá rụng khắp thành tháng chín ơi
Nắng nghiêng phủ đất vạch mây trời
Cánh chim hồng vút vờn giông lộng
Trăng ánh vàng len lách kẽ soi
Thi hứng bốn mùa,  Thu cảm dễ
Đời dây vạn việc, khọm buồn tơi
Còn gì đâu nữa sau binh lửa
Vời vọng trời quang, chỉ ngậm ngùi

NguyễnTâmHàn Oct-2016

_________________
Chút niềm vui cho mình, cho người
Về Đầu Trang
MAI THO



Ngày tham gia: 20 Apr 2011
Số bài: 5760

Bài gửiGửi: Tue Nov 01, 2016 9:41 am    Tiêu đề: Thu Thành Vãn Vọng



Thu Thành Vãn Vọng


      秋城晚望-阮飛卿 Thu Thành Vãn Vọng-Nguyễn Phi Khanh
      木落都城九月天,Mộc lạc đô thành cửu nguyệt thiên,
      斜陽罩地截雲煙。Tà dương tráo địa tiệt vân yên.
      離鴻遠遠迎風陣,Ly hồng viễn viễn nghênh phong trận,
      隙月涓涓隔樹懸。Khích nguyệt quyên quyên cách thụ huyền.
      吟興四時秋易感,Ngâm hứng tứ thời thu dị cảm,
      人生萬事老堪憐。Nhân sinh vạn sự lão kham liên.
      兵戈況復彫殘後,Binh qua huống phục điêu tàn hậu,
      遙望晴旻一慨然。Dao vọng tình mân nhất khái nhiên.

     Dịch nghĩa:

      Chiều mùa thu ở đô thành ngắm cảnh.
      Đô thành lá cây tàn rụng, trời tháng chín, (1)
      Nắng chiều trùm mặt đất cắt khói mây.
      Xa xa đàn chim hồng ra đi bay đón cơn gió,
      Ánh trăng trong sáng xuyên kẽ lá (2) (vầng trăng) treo cách ngọn cây. (3)
      Hứng ngâm thơ trong bốn mùa, mùa thu rất dễ cảm,
      Muôn việc trong đời người, tuổi già thì buồn bã. (4)
      Sau cơn binh đao lại thêm cảnh điêu tàn, (5)
      Trông xa trời tạnh ngậm ngùi thay! (6)

      (1) Mộc Lạc木落: lá cây tàn rụng.
      (2) Khích nguyệt隙月: ánh trăng xuyên qua kẽ hở.
      Quyên quyên涓涓: hình dung nước chảy chậm chậm nhè nhẹ; hình dung trong sáng thuần khiết; mới mẻ trong sáng.
      (3) Huyền懸: treo.
      (4) Kham liên 堪憐: lão cảnh kham liên. 老景堪怜= cảnh già buồn bã, thê lương.
      (5) Huống phục況复: thêm vào, lại thêm.
      (6) Mân旻: trời, thiên không, đặc biệt chỉ trời mùa thu.

      Phỏng Dịch:

      Ngắm Cảnh Chiều Thu

      Tháng chín thành đô lá rụng đầy,
      Nắng chiều phủ đất cách trời mây.
      Chim hồng lìa phố vờn cơn gió,
      Trăng sáng xuyên cành chiếu ngọn cây.
      Ngâm hứng bốn mùa thu dễ cảm,
      Ở đời muôn việc lão buồn vây.
      Điêu tàn cảnh sắc sau chinh chiến,
      Xa ngắm trời quang cảm khái thay.

      HHD


Chiều ngắm thành thu

Tháng chín đô thành lá rụng rơi
Nắng chiều trải đất cắt mây trời
Chim hồng xa thẳm vờn theo gió
Trăng sáng len cành vắt ngọn chơi
Ngâm hứng bốn mùa, thu cảm xúc
Sống đời vạn sự, lão than ôi
Binh đao chết chóc thêm tàn phá
Trời tạnh vời trông rõ ngậm ngùi!

Lộc Bắc
26Oct2016


Ngắm cảnh thành thu

Kinh đô tháng chin lá rơi vàng
Mây khói trời chiều bóng cắt ngang
Xoải cánh chim hồng giăng đón gió
Xuyên cành trăng sáng trải thênh thang
Bốn mùa xướng họa thu sinh cảm
Muôn việc đời người lão hận mang
Cảnh sắc điêu tàn sau cuộc chiến
Nhìn trời cảm thấy nỗi buồn sang

Bá Nha 26/10/2016


Chiều thu bến cũ

Tàn thu bến cũ lá rơi đầy 
Nắng xuống chiều lên cắt khói mây
Nương gió hồng bay tung sãi cánh
Xuyên cành trăng ẩn khuất cành cây
Hồn thơ hoài cảm mùa thu úa
Tuổi hạc vui buồn theo gió mây
Chinh chiến tàn theo mùa hạ cũ
Lặng nhìn mây trắng vẫn còn bay
                 
                 Thanh Lam (30-10-16)


NGẮM CẢNH CHIỀU THU

Nhìn cảnh thành đô lá rụng vàng
Cây buồn tháng chín bóng thu sang
Chim hồng sải cánh bay theo gió
Trăng sáng lạnh lùng khiến mộng tan
Xuân hạ thu đông mùa  bốn nhịp
Tháng năm trôi nổi chuyện buồn mang
Chiến chinh đã hết đời tan tác
Cảm khái mắt nhìn cảnh phá hoang.

       BẠCH NGA


Ngắm thu ngậm ngùi 

Tháng chín cây tàn lá rụng rơi ,
Giữa cảnh phồn hoa ngắm đất trời ,
Ánh chiều vàng hực mây lan khói ,
Chim hồng xoãi cánh gió chơi vơi ,
Trăng tỏ xuyên cành in vết lá ,
Vầng trăng hờ hững vắt ngọn khơi ,
Thi hứng bốn mùa thu dễ cảm ,
Tuổi già thế sự dễ buồn mang ,
Chinh chiến qua đi tàn thế cuộc ,
Thu lạnh càng thêm nỗi ngậm ngùi .

Đ.Trần Nov 28/16


Trong thành ngắm cảnh Thu

Lá rụng khắp thành tháng chín ơi
Nắng nghiêng phủ đất vạch mây trời
Cánh chim hồng vút vờn giông lộng
Trăng ánh vàng len lách kẽ soi
Thi hứng bốn mùa,  Thu cảm dễ
Đời dây vạn việc, khọm buồn tơi
Còn gì đâu nữa sau binh lửa
Vời vọng trời quang, chỉ ngậm ngùi

NguyễnTâmHàn Oct-2016



Cảnh thu thành đô

Tháng chín thành đô ngập lá vàng
Lá rơi báo hiệu mùa thu sang
Khói vương mây phủ vàng óng ánh
Bầy chim sãi cánh rất rộn ràng
Trăng tỏ soi nghiên trong ánh mắt
Vầng trăng lơ lững giữa trời trong
Gợi hứng thơ tuôn tràn khắp chốn
Thế sự trần gian tuổi xế chiều
Chiến chinh rồi sẻ tan thành khói
Thu rơi lạnh lẻo quá thu ơi !

PC (29/10/16)




Về Đầu Trang
MAI THO



Ngày tham gia: 20 Apr 2011
Số bài: 5760

Bài gửiGửi: Mon Nov 07, 2016 7:34 pm    Tiêu đề: Thu nhật hiểu khởi hữu cảm - Nguyễn Phi Khanh



Thu nhật hiểu khởi hữu cảm - Nguyễn Phi Khanh


      秋日曉起有感 - 阮飛卿 Thu nhật hiểu khởi hữu cảm - Nguyễn Phi Khanh
      殘夢疏疏醒曉鍾,Tàn mộng sơ sơ tỉnh hiểu chung,
      日含秋影射窗櫳。Nhật hàm thu ảnh xạ song lung.
      客懷擁枕欹眠後,Khách hoài ủng chẩm y miên hậu,
      心事焚香兀坐中。Tâm sự phần hương ngột toạ trung.
      庭外掃愁看落葉,Đình ngoại tảo sầu khan lạc diệp,
      天邊隔淚數征鴻。Thiên biên cách lệ sổ chinh hồng.
      嗚呼世道何如我?Ô hô thế đạo hà như ngã?
      三撫遺編賦大東。Tam phủ di biên phú Đại đông.

      Dịch nghĩa:

      Cảm xúc Ngày Thu Dậy sớm (1)
      Mộng tàn vừa tỉnh (nghe) tiếng chuông sáng sớm, (2) (3) (4)
      Bóng thu lẫn với ánh sáng ngày, rọi qua khung cửa sổ. (5)
      Sau lúc ôm gối nằm ngủ thì tình nhớ của người khách (khôn nguôi), (6)
      Trong lúc ngồi ngay thẳng đốt hương thì tâm sự (tràn trề). (7)
      Xem lá rụng ngoài sân để tiêu sầu, (8)
      qua làn nước mắt, đếm chim nhạn bên trời xa. (9)
      Than ôi! Đường đời, ta biết làm sao? (10)
      Ba lần vỗ sách cũ xem bài phú Đại Đông! (11)


      Chú Thích:

      (1) Bản khác chép: Thu Nhật Vãn Khởi Hữu Cảm 秋日晚起有感 = cảm xúc về ngày thu dậy muộn.
      (2) 疏疏 Bản khác chép: đông đông 鼕 鼕 = hình dung tiếng chuông, tiếng trống.
      (3) Sơ sơ 疏疏: thưa thớt, lờ mờ. Trong bài từ Hoãn Khê Sa 浣溪沙 của bà Lý Thanh Chiếu 李清照 có câu:đạm vân lai vãng nguyệt sơ sơ 淡云来往月疏疏 mây nhạt qua lại trăng lờ mờ.
      (4) 曉鍾 Bản khác chép vãn chung 晚鍾 = chuông chiều
      (5). hàm含: ngậm;
      . song lung 窗櫳= cửa sổ, khung cửa sổ.
      (6). Khách hoài客懷: tình hoài của người khách, tình cảm ôm ấp trong lòng của người khách.
      . y miên 欹眠: nằm nghiêng ngủ.
      (7). phần hương焚香: đốt hương lúc tế lễ hay khi tĩnh tọa;
      . ngột tọa兀坐: ngồi ngay ngắn.
      (8) Tảo sầu 掃愁: tiêu sầu, làm hết nỗi buồn.
      (9) chinh hồng 征鴻: chim hồng nhạn bay ở xa, thường dùng trong văn chương cổ.
      (10) hà như 何如: 1. thế nào? thí dụ: vị tri hà như未知何如?= chưa biết thế nào?
      2. không như, thí dụ: hà như vật mãi何如勿買= không như đừng mua.
      3. tại sao, thí dụ: hà như tai何如哉? = tại sao vậy?
      (11). di biên 遺編: sách của người xưa để lại;
      . phú đại đông 賦大東: bài phú của 1 tác giả người nước chư hầu kể nỗi khốn khổ và phẫn hận của ngưòi dân chư hầu đối với sự đàn áp của nhà Chu.
      Về sau bài này được chép trong Thi Kinh của Khổng Giáo.


      Phỏng Dịch:

      (1) Ngày Thu Thức Sớm

      Chuông ngân tỉnh giấc mộng tàn,
      Mầu thu nắng sớm ngỡ ngàng bên song.
      Ngủ vùi đất khách não lòng,
      Đốt hương tâm sự mông lung ngây người.
      Nhìn lá rụng, giải sầu đời,
      Lệ nhòa đếm cánh chim trời chân mây.
      Thế sự ấy, làm sao đây?
      Mở trang sách cũ, đắng cay trùng trùng.


      (2) Ngày Thu Thức Sớm

      Chợt tỉnh chuông ngân tàn giấc mộng,
      Mầu thu nắng sớm chiếu qua song.
      Ngủ vùi tựa gối ôm tình nhớ,
      Ngồi thẳng phần hương nghĩ việc lòng.
      Lá rụng trong sân hồn quặn thắt,
      Chim bay ngoài cõi lệ mông lung.
      Than ôi thế sự làm sao được?
      Sách cũ còn ghi những khốn cùng.

      HHD


      Mời đọc 2 bài phỏng dịch "nối điêu".
      Thân
      LB


      Sớm thu (1)

      Tinh mơ chuông sớm cơn nồng
      Ảnh thu trời ngậm qua song trải bày
      Gối ôm nghiêng giấc tình say
      Đốt hương thiền tọa ý ngay tràn trề
      Ngoài sân lá rụng cội về
      Qua làn nước mắt thiên di chim hồng
      Than ôi đời đạo mông lung
      Phủi trang sách cũ trùng trùng nỗi đau!!


      Sớm thu (2)

      Tỉnh giấc tinh sương vẳng tiếng chuông.
      Ảnh thu trời ngậm chiếu qua song
      Tiếc thương ôm gối sau cơn mộng
      Thiền tọa đốt hương nhẹ nỗi lòng
      Sầu quét ngoài sân xem lá rụng
      Lệ lau trời thẳm đếm chim hồng
      Than ôi thế sự ai như kẻ?
      Đọc phú sách xưa – lẽ khốn cùng!

      Lộc Bắc
      Nov2016



      SÁNG MÙA THU

      Thu sáng tinh mơ tỉnh giấc nồng
      Nắng vàng nhè nhẹ chiếu qua song
      Giấc mơ  thoang thoảng hương ngày cũ
      Mộng hết lan man nhớ chuyện lòng
      Thắp nén tâm hương ngồi tĩnh lặng
      Buồn trông cánh nhạn nghĩ mông lung
      Cuộc đời thế sự là như thế
      Sách sử còn ghi khổ khốn trùng  .

      Bạch Nga


      Cảm xúc ngày thu dậy sớm

      Chuông ngân tỉnh giấc mộng du ,
      Bên song cửa hẹp ánh thu tràn vào  ,
      Gối hương còn ũ tâm hao ,
      Ngồi thiền tâm sự não nề khôn nguôi ,
      Ngắm lá rơi , giải u sầu ,
      Qua làn nước mắt đếm từng nhạn bay  ,
      Thế sự ngàn nổi đắng cay ,
      Sách xưa lần giở nổi đau còn đầy .

      Đ.Trần Nov.09/16



Về Đầu Trang
MAI THO



Ngày tham gia: 20 Apr 2011
Số bài: 5760

Bài gửiGửi: Mon Nov 21, 2016 3:37 am    Tiêu đề: Tiếng Sáo Đêm Xuân



Tiếng Sáo Đêm Xuân


     
      * Cụ Nguyễn Khuyến đã họa lại bài thơ: Đêm xuân Nghe Tiếng Sáo ở Lạc Thành” của Lý Bạch.
      春夜洛城聞笛 - 李白 Xuân Dạ Lạc Thành Văn Địch - Lý Bạch
      誰家玉笛暗飛聲,Thùy gia ngọc địch ám phi thanh,
      散入春風滿洛城。Tán nhập xuân phong mãn Lạc Thành.
      此夜曲中聞折柳,Thử dạ khúc trung văn chiết liễu,
      何人不起故園情?Hà nhân bất khởi cố viên tình.

      Dịch Nghĩa:

      Tiếng sáo nhà ai u ẩn bay lên,
      Lẫn vào gió xuân truyền khắp Lạc Thành.
      Đêm nay trong khúc nhạc có bài “Chiết Liễu”,
      Khiến người nào mà chẳng nổi tình nhớ quê?

      Chú Thích:
      Ngọc địch玉笛:cây sáo đẹp đẽ.
      Lạc Thành洛城:tỉnh Lạc Dương, TH.
      Chiết Liễu折柳:Tên bài sáo “Chiết dương liễu”, “Chiết liễu khúc”.
      Cố viên故園: chỉ cố hương, quê nhà.

      Phỏng Dịch:

      Tiếng Sáo Đêm Xuân

      Tiếng sáo nhà ai nhè nhẹ bay,
      Vi vu trong gió xuân vơi đầy.
      Khúc buồn bẻ liễu đêm giăng mắc,
      Gợi nhớ quê xưa mờ khuất mây.
      HHD

      Đêm xuân nghe sáo thổi

      Tiếng sáo nhà ai u uẩn thay
      Gió xuân reo rắc khắp nơi này
      Đêm nay nghe thoáng bài dương liễu
      Gợi nhớ quê nhà đến quắt quay!
      Lộc Bắc
      Oct2016

      Cám ơn anh Điệp chúc vui, tôi cũng chúc vui mọi người cuối tuần bằng bản " mưa Saigon, mưa Hà Nội" nhạc Phạm Đình Chương. ca sĩ Khánh Ly, PPS Hùng Hà
       
      Mưa Saigon, mưa Hà Nội

      Tôi ngồi đây nghe mưa đổ thầm thì
      Châm điếu thuốc tìm về nơi thân ái
      Chiều hẹn hò, giấc mơ thời vụng dại
      Mưa Saigon, mưa Hà Nội
      Thôi! xa rồi những kỷ niệm dấu xưa!
      Bá Nha 30/10/2016

     


秋夜有感 - 阮勸 * Thu dạ hữu cảm - Nguyễn Khuyến

      山河寥落四無聲 Sơn hà liêu lạc tứ vô thanh
      獨坐書堂看月明 Độc tọa thư đường khán nguyệt minh
      何處秋風吹一葉 Hà xứ thu phong xuy nhất diệp
      引來無限故園情 Dẫn lai vô hạn cố viên tình

      Cảm xúc đêm thu

      Non sông bốn mặt yên lặng không thanh âm,
      Một mình ngồi trong thư phòng ngắm trăng sáng.
      Từ nơi nào gió thu thổi một chiếc lá.
      Gợi lên biết bao tình cảm nhớ nhà

      Chú thích:

      Liêu lạc寥落: thưa thớt, tàn tạ, cô đơn, tĩnh mịch.
      Dẫn lai引來: đem đến, dẫn đến, đem lại, bring in.
      Cố viên故園: Cố hương, quê hương.

      Phỏng dịch:

      Đêm thu xúc cảm

      Non sông bốn hướng lặng như tờ
      Phòng học một mình ngắm nguyệt mơ
      Chiếc lá, gió thu đâu đến nhỉ?
      Gợi buồn vô tận nhớ quê xưa
      Lộc Bắc

      Đêm Thu Cảm Xúc

      Sông núi bốn bề im vắng lặng,
      Thư phòng một bóng ngắm trăng thanh.
      Lá thu đâu đó vờn theo gió,
      Gợi nhớ quê xưa vô hạn tình.
      HHD





MƯA SÀI GÒN  MƯA HÀ NỘI - Phạm Đình Chương - Khánh Ly, PPS Hùng Hà



Về Đầu Trang
MAI THO



Ngày tham gia: 20 Apr 2011
Số bài: 5760

Bài gửiGửi: Sun Dec 11, 2016 3:25 pm    Tiêu đề: ĐÊM THU



Bấm vào để xem hình lớn hơn

秋夜其一 阮攸 Thu dạ kỳ 1 - Nguyễn Du

繁星歷歷露如銀, Phồn tinh lịch lịch lộ như ngân,

東壁寒蟲悲更辛。 Đông bích hàn trùng bi cánh tân.

萬里秋聲催落葉, Vạn lý thu thanh thôi lạc diệp,

一天寒色掃浮雲。 Nhất thiên hàn sắc tảo phù vân.

老來白髮可憐汝, Lão lai bạch phát khả liên nhữ,

住久青山未厭人。 Trú cửu thanh sơn vị yếm nhân.

最是天涯倦遊客, Tối thị thiên nhai quyện du khách,

窮年臥病桂江津。 Cùng niên ngoạ bệnh Quế giang tân.

Dịch nghĩa:

Đêm Thu kỳ 1 của Nguyễn Du

Sao dày đặc, trong sáng rõ ràng (1), sương như bạc

Vách phía đông, (tiếng) dế mèn (2) buồn bã (3).

Muôn dặm, tiếng thu giục giã lá rụng.

Một bầu trời đầy vẻ lạnh, quét (sạch) mây trôi.

Tuổi già đến, tóc bạc, đáng thương (cho) anh!

Ở lâu (mà) núi xanh chưa chán người.

Nhất là (4) người du khách mệt mỏi ở nơi chân trời,

Suốt năm (5) nằm bệnh ở bến Quế giang (6).

Chú Thích:

(1) Lịch lịch歷歷 = trong sáng rõ ràng.

(2) Đông bích東壁 = vách tường phía đông;

Hàn trùng 寒蟲= côn trùng trong mùa lạnh, thường chỉ con dế.

Đông bích hàn trùng 東壁寒蟲 = con dế mèn (tiếng chữ là tất suất 蟋蟀 hay xúc chức 促織), 1 giống dế nhỏ thường sống trong khe hở, khe nứt của vách tường. Người xưa cho rằng giống dế này thích chỗ ấm áp nên trú ở vách nhà nơi hướng đông có ánh mặt trời soi ấm. Đông bích và hàn trùng thường đi đôi với nhau trong văn chương cổ. Thí dụ như câu: "Minh nguyệt kiểu dạ quang, Xúc chức minh đông bích 明月皎夜光,促織鳴東壁" = Trăng sáng soi đêm trong, Dế mèn kêu tường đông.

(3) Bi cánh tân 悲更辛 buồn thêm cay, do chữ bi tân 悲辛= bi thương tân toan 悲伤辛酸 = đau buồn chua cay.

(4) Tối thị 最是 = Nhất là, sau cùng là...

(5) Cùng niên 窮年= suốt 1 năm (nhất chỉnh niên 一整年).

(6) Quế giang tân 桂江津 = bến Quế giang tức là bến sông Lam.

Phỏng Dịch:

(1)

Đêm Thu

Sao dầy giằng giặc, sương như bạc,

Buồn bã tường đông dế khóc than.

Muôn dặm tiếng thu gieo lá rụng,

Một trời mầu lạnh quét mây ngàn.

Đến già, tóc bạc đáng thương phận,

Mãi ở, non xanh chưa chán thân.

Mệt mỏi chân trời xa lữ khách,

Suốt năm nằm bệnh Quế giang tân.

(2)

Đêm Thu

Sao dầy giằng giặc, ánh sương,

Tường đông dế khóc buồn thương vơi đầy.

Tiếng thu muôn dặm lá bay,

Một trời sắc lạnh quét mây xa gần.

Tuổi già tóc bạc thương thân,

Ở lâu chưa chán non xanh chiều người.

Nhất là lữ khách bên trời,

Suốt năm ốm yếu nằm dài Quế giang.

HHD




ĐÊM THU (1)

Đầy sao sương bạc ánh như gương

Buồn bã tường đông dế khóc thương

Muôn dặm tiếng thu sui lá rụng

Một trời lạnh lẽo quét mây vương

Già đến, tóc phai đau xót bạn

Sống lâu, non thẳm vẫn còn nương

Thảm thay du khách chân trời mỏi

Năm tháng Quế Giang liệt chiếu giường!

(2)

Sao chi chít lồng sương như bạc

Tường bên đông dế hát thở than

Ngàn thu sui lá rụng tràn

Một trời sắc lạnh mây tan trong ngần

Già chợt đến thương thân tóc bạc

Náu nương lâu, tuổi hạc non chiều

Chân trời lữ khách cô liêu

Suốt năm ôm bệnh sóng triều Quế Giang

Lộc Bắc

Dec2016


SƯƠNG THU

(Bài họa ĐÊM THU 1 LB)

Sương đêm sao chiếu tựa tấm gương

Tường vôi dế khóc như nhớ thương

Lá thu xào xạc buồn rơi rụng

Mảnh trời thu lạnh mây vấn vương

Tóc phai già yếu nhà xa cách

Non cao núi thẳm thân vẫn nương

Lữ khách dừng bước nhìn non nước

Quế Giang mòn mỏi bệnh nằm giường
                     

VĂN BỔN


ĐÊM THU

Sương bạc giăng mờ che ánh sao

Tường đông tiếng dế vọng lao xao

Trời xanh phủ kín đêm thu lạnh

Đất rộng vàng cây lá đổ ào

Tuổi hạc sức già đau tóc trắng

Núi xanh thăm thẳm giữ chân nào

Quê người phận bạc lòng xao xuyến

Sông QUẾ quanh năm bệnh thấp cao.

BẠCH NGA


Đêm thu (1)

Sao đầy sáng bạc tựa sương rơi

Đông vách dế than vẳng rã rời

Muôn dặm thu ngân đầy lá rụng

Một trời lạnh lẽo sạch mây trôi

Tới già tóc trắng thêm buồn phận

Mãi ở núi xanh vẫn nhớ người

Lữ khách phương xa thêm mỏi mệt

Quế Giang nằm viện cả năm trời

Bá Nha

10/12/2016




CON THUYỀN KHÔNG BẾN - Đặng Thế Phong - Ngọc Hạ




Về Đầu Trang
MAI THO



Ngày tham gia: 20 Apr 2011
Số bài: 5760

Bài gửiGửi: Fri Dec 30, 2016 7:01 pm    Tiêu đề: ĐẠP SA HÀNH



ĐẠP SA HÀNH


      踏莎行 - 賀鑄 Đạp sa hành 1 - Hạ Chú
      楊柳迴塘, Dương liễu hồi đường, 2
      鴛鴦別浦, Uyên ương 3 biệt phố, 4
      綠萍漲斷蓮舟路。 Lục bình trướng đoạn liên châu 5 lộ.
      斷無蜂蝶慕幽香, Đoạn vô phong điệp mộ u hương,
      紅衣脫盡芳心苦。 Hồng y 6 thoát tận phương tâm 7 khổ,
      返照迎潮, Phản chiếu 8 nghênh triều, 9
      行雲帶雨, Hành vân 10 đới vũ,
      依依似與騷人語: Y y 11 tự dữ tao nhân 12 ngữ.
      當年不肯嫁春風, Đương niên bất khửng giá xuân phong, 13
      無端卻被秋風誤! Vô đoan 14 khước bị thu phong ngộ.

      Dịch nghĩa:

      Bài từ theo điệu Đạp Sa Hành của Hạ Chú.
      Dương liễu trồng bên ao quanh co.
      Chim uyên ương ở vùng rạch ngòi nhỏ.
      Đám bèo xanh dầy đặc ngăn lối thuyền vào hái sen,
      Tuyệt nhiên không có ong bướm nào thích mùi thơm nhẹ,
      Khi áo đỏ đã cởi bỏ (cánh sen đỏ đã tàn), quả tim đắng (trái sen đắng kết thành).
      Ánh trời phản chiếu đón nước triều,
      Mây bay đem mưa tới,
      Hoa phất phơ (vì gió mưa rơi trên hoa) tựa như lời hoa nói chuyện với nhà thơ.
      Năm nao không chịu gả cho gió xuân,
      Không dè bị gió thu làm lỡ (thời quang đẹp đẽ).

      Chú Thích:

      (1) Đạp sa hành 踏莎行: tên của từ điệu.
      (2) Hồi đường 迴塘 = 回塘: ao hồ có hình dáng quanh co uốn khúc.
      (3) Uyên ương 鴛鴦: tên loài chim thường xuất hiện trong văn chương cổ hay truyện thần thoại, là loại vịt có mầu sắc đẹp đẽ, sống thành đôi, bơi ở ao hồ, con đực là uyên, con mái là ương.
      (4) Biệt phố 別浦: nhánh sông ngòi nhỏ chảy vào nguồn nước khác.
      (5) Liên châu蓮舟: thuyền con đi hái sen.
      (6) Hồng y紅衣: chỉ cánh hoa sen mầu đỏ.
      (7) Phương tâm khổ芳心苦: chỉ búp sen có vị đắng.
      (8) Phản chiếu 返照: ánh sáng phản chiếu trên mặt nước.
      (9) Triều潮: con nước lên, thường lúc chiều hoặc tối.
      (10) Hành vân行雲: mây bay.
      (11) Y y依依: hình dung hoa sen phất phơ theo gió.
      (12) Tao nhân騷人: chỉ thi nhân.
      (13) Mượn câu thơ của Hàn Xúc: 韓促trong bài Ký Hận寄恨: Liên hoa bất khửng giá xuân phong蓮花不肯嫁春風 = liên tưởng hoa sen lúc sắp tàn cũng như mỹ nhân lúc lỡ thì, nhan sắc không còn xuân xanh nữa.
      (14) Vô đoan無端: vô cớ.

      Phỏng Dịch:

      Dương liễu quanh hồ.
      Uyên ương rạch nọ.
      Thuyền sen đến, lục bình ngăn lộ.
      Tuyệt không ong bướm thích u hương,
      Cánh hồng rơi rụng búp hoa khổ.

      Ánh chiếu triều lên,
      Mây bay mưa nhỏ.
      Hướng thi nhân nỗi niềm bày tỏ.
      Gió xuân tàn, sắc đẹp dần phai.
      Gió thu vô cớ gây đam ngộ.

      HHD 12-28-2016

      ĐẠP SA HÀNH

      Dương liễu, quanh hồ
      Uyên ương, ngòi nhỏ
      Lục bình ken, thuyền sen kẹt ngõ
      Bướm ong nào có thích hương phai
      Cánh hồng rụng tất gương sen lộ

      Nắng chiếu triều dâng
      Mây đem mưa gió
      Lắt lay cùng thi nhân than thở
      Đương thì chả chịu lấy xuân phong
      Đâu ngờ gió thu gây cơ nhỡ!

      Lộc Bắc
      Dec2016


      *Cảm ơn thi nhân Lộc Bắc đã chuyển cho đọc
      Cảm ơn thi nhân HHD đã giới thiệu thể từ Đạp Sa Hành.
      Cuối năm cũng xin mạo muội góp vài hàng với thể từ Đạp Sa Hành (Hàng bước trên cát?) 4-4-7-7-7_4-4-7-7-7. với vần bằng trắc trắc bằng trắc.
      ĐG

      ĐẠP SA HÀNH

      Liễu uốn quanh ao
      Đôi vịt trú lạch
      Bèo dầy cản lối thuyền sen viếng
      Bướm đâu có có luyến chút hương chìm
      Cánh hồng trút phô sen tim đắng

      Ánh sóng đón triều
      Mây bay mưa rớt
      Hướng nhà thơ dường như bày tỏ
      Gió xuân tàn sắc cũng tàn rồi
      Vô cớ bỡn cợt gió thu ngỏ.

      Đàm Giang
      December 30, 2016

      *Cũng xin kèm theo một bài từ Đạp Sa Hành 2 - Âu Dương Tu
      chép lại trên net.
      Xin lĩnh ý và nghe giải thích từ nhà thơ HHD.
      Đàm Giang

      Nguyên tác:
      Đạp Sa Hành -  Âu Dương Tu

      踏莎行
      候館梅殘,
      溪橋柳細,
      草薰風暖搖征轡。
      離愁漸遠漸無窮,
      迢迢不斷如春水。
      寸寸柔腸,
      盈盈粉淚,
      樓高莫近危闌倚。
      平蕪盡處是春山,
      行人更在春山外。

      Phiên âm:

      Hậu quán mai tàn,
      Khê kiều liễu tế,
      Thảo huân phong noãn dao chinh bí.
      Ly sầu tiệm viễn tiệm vô cùng,
      Điều điều bất đoạn như xuân thuỷ.
      Thốn thốn nhu trường,
      Doanh doanh phấn lệ,
      Lâu cao mạc cận nguy lan ỷ.
      Bình vu tận xứ thị xuân san,
      Hành nhân cánh tại xuân san ngoại.

      Dịch nghĩa:

      Nơi quán nghỉ, hoa mai đã tàn
      Cầu bên khe, lá liễu lăn tăn
      Cỏ thơm, gió ầm, cương ngựa ruổi dong
      Nỗi buồn chia ly càng xa càng không biết là cùng
      Chảy dài không đứt như nước dòng xuân
      Từng tấc, từng tấc ruột mềm
      Rưng rưng tràn đầy đầy nước mắt
      Lầu cao chớ ra đứng tựa ngoài lan can
      Tầm mắt nhìn xa tít, đó là núi xuân
      Người đi lại ở ngoài núi xuân đó
      *
      Đạp Sa Hành

      Phỏng dịch bài từ của Âu dương Tu

      Quán xưa, hoa tàn
      Kế cầu, liễu uốn
      Cỏ hương, ầm gió, dong cương ngựa
      Sầu chia ly còn mãi không nguôi
      Cứ liên miên xuân giòng nước tựa

      Tấc ruột ruột mềm
      Rưng rưng nước mắt
      Lầu cao dựa lan can gió lạnh
      Tuốt xa tầm mắt kìa núi xuân
      Người đi lưu tại núi xuân cạnh
      Đàm Giang

      *Góp vui cuối năm với chị Đàm Giang một bài phỏng dịch.
      Thân
      LB

      Phỏng dịch bài:
      ĐẠP SA HÀNH, Âu Dương Tu

      Sau quán, mai tàn
      Cầu con, liễu nhỏ
      Dong cương, gió ấm thơm mùi cỏ
      Sầu biệt dần xa mãi vô cùng
      Đều đều không dứt dòng xuân thủy

      Từng tấc ruột mềm
      Phấn son nhòa lệ
      Lầu cao tránh lan can chớ dựa
      Xa thẳm cuối trời, đó núi xuân
      Người đi khuất sau núi xuân nọ!!

      Lộc Bắc
      Dec2016


      Đạp Sa Hành

      Mai tàn sau quán
      Liẽu rũ bên cầu
      Gió thoảng đưa hương cỏ, vó câu
      Rong ruổi mãi ...  niềm đau canh cánh
      Cuộc chia ly ... dòng xuân sóng sánh

      Nhàu nhũn tâm can
      Đầy vơi lệ thảm
      Được chi đâu ... lan can đứng ngắm
      Nơi xa xăm ... núi  đón xuận rồi
      Người đi biền biệt ... chốn ấy xa xôi

      NguyễnTâmHàn  
      Dec. 2016

Phần của anh HHĐ


Chú Thích:

(1)Đạp Sa Hành 踏莎行: tên bài từ, còn đọc là Đạp thoa hành, có 2 đoạn, tổng cộng 10 câu, 58 chữ, 6 câu có trắc vận, suốt bài không đổi vận.
Trong bài từ của Âu Dương Tu, đoạn đầu viết cho người ra đi, đoạn sau viết cho người ở lại.
(2)Hậu quán 候館: lữ quán, quán trọ.
(3)Thảo huân 草薰:mùi thơm của cỏ.
(4)Chinh bí 征辔:dây cương ngựa.
Câu này nguyên phỏng theo 1 câu thơ cổ: Khuê trung phong noãn, mạch thượng thảo huân=phòng khuê gió ấm, Trên đường cỏ thơm.
(5)Điều điều 迢迢:Hình dung xa xa.
(6)Thốn thốn nhu trường寸寸柔肠=柔肠寸断 nhu trường thốn đoạn: hình dung sầu khổ đến cực điểm.
(7)Doanh doanh 盈盈:tràn đầy, ràn rụa.
(8) Phấn lệ 粉泪:nước mắt tràn lên mi, hòa với phấn sáp trang sức.
(9)Nguy lan 危闌:lan can ở trên lầu cao.
(10)Bình vu 平蕪:bãi cỏ phẳng dài.

Phỏng Dịch:

Hoa Mai Lữ Quán

Lữ quán mai tàn,
Ngòi cầu liễu nhứ.
Cỏ thơm gió ấm thúc cương ngựa,
Ly sầu mỗi lúc mỗi trùng trùng,
Như dòng xuân mãi dần xa xứ.

Bối rối lòng này,
Long lanh lệ nhỏ.
Lan can chớ tựa thêm buồn nhớ,
Cỏ xanh bát ngát đến non xa,
Người đi mãi tận ngoài nơi đó.

HHD


Nỗi lòng kẻ ở người đi

*
Lối sau lữ quán mai tàn
Gió lay lệ liễu lan man bên cầu
Hương cỏ thoảng, nhẹ vó câu
Đường đời đôi ngả nỗi sầu khó quên
Dòng xuân chảy, nước triền miên
Niềm riêng từng khúc ruột mềm thắt đau
Nhạt nhòa phấn lệ u sầu
Nhớ thương đứng tựa bên lầu xa trông
Cỏ xanh tận núi chập chùng
Người đi hẳn đón xuân phong cuối trời
*
NguyễnTâmHàn Dec. 31st-2016



Về Đầu Trang
MAI THO



Ngày tham gia: 20 Apr 2011
Số bài: 5760

Bài gửiGửi: Sun Jan 01, 2017 10:18 pm    Tiêu đề: Đạp Sa Hành - Hạ Chú


Đạp Sa Hành - Hạ Chú

Bấm vào để xem hình lớn hơn

Đạp Sa Hành - Hạ Chú

Quanh hồ dương liễu

Giữa lạch uyên ương

Thuyền hái sen bèo lấp kín đường

Phấn hương nhạt bướm ong nào tới

Đài hoa rụng... gưong sen trơ trọi

Triều dâng ánh chói

Mưa tới mây đưa

Hoa chao lay như trách người thơ

Sao chẳng tới vui xuân cùng gió

Để bây giờ... thu phong... đành lỡ

NguyễnTâmHàn

Jan.1st-2017






Đạp Sa Hành

Bấm vào để xem hình lớn hơn
Về Đầu Trang
MAI THO



Ngày tham gia: 20 Apr 2011
Số bài: 5760

Bài gửiGửi: Thu Jan 12, 2017 5:55 pm    Tiêu đề: Bồ Tát Man (1) - Lý Bạch


Bồ Tát Man - Lý Bạch


菩薩蠻 - 李白 Bồ Tát Man (1) - Lý Bạch

平林漠漠煙如織, Bình lâm (2) mạc mạc (3) yên như chức, (4)

寒山一帶傷心碧。 Hàn san nhất đái thương tâm (5) bích.

暝色入高樓, Minh sắc (6) nhập cao lâu,

有人樓上愁。 Hữu nhân lâu thượng sầu.

玉階空佇立, Ngọc giai (7) không trữ lập, (8)

宿鳥歸飛急。 Túc điểu (9) quy phi cấp.

何處是歸程, Hà xứ thị quy trình, (10)

長亭更短亭。 Trường đình canh đoản đình. (11)

Dịch Nghĩa:

Bài từ theo điệu Bồ tát man của Lý Bạch.

Cảnh rừng bằng phẳng có nhiều khói dày đậm uốn lượn trông như dệt với nhau.

Hàn san một giải mầu xanh biếc thương tâm.

Bóng tối vào lầu cao.

Có người trên lầu buồn.

Thềm ngọc đứng trơ mãi.

Chim tối bay về vội.

Đường về là nơi nào?

Trường đình lại đến đoản đình

Chú Thích:

(1) Từ điệu Bồ tát man có 44 chữ, 8 câu, 4 vận khác nhau, sắp xếp như sau:

câu 1 và 2 có vận trắc, mỗi câu có 7 chữ.

BB TT BB T (vận),

BB TT BB T (vận).

câu 3 và 4 có vận bằng, mỗi câu có 5 chữ.

TT TB B (vận),

TB BT B (vận).

câu 5 và 6 có vận trắc, mỗi câu có 5 chữ.

TB BT T (vận),

TT BB T (vận).

câu 7 và 8 có vận bằng, mỗi câu có 5 chữ,

BT TB B (vận),

BB BT B (vận).

Sau mỗi 2 câu phải đổi vận.

(2) Bình lâm: Hình dung khu rừng mọc trên vùng đất phẳng, trông từ xa.

(3) Mạc mạc 漠漠:có nhiều nghĩa:

1. yên tĩnh lặng lẽ (mạc mạc khinh hàn thượng tiểu lâu漠漠輕寒上小樓=trong yên tĩnh hơi lạnh, bước lên lầu)

2. dày đặc la liệt (mạc mạc thủy điền phi bạch lộ漠漠水田飛白鷺=ruộng nước dày đặc la liệt, cò trắng bay)

3. mờ mịt hôn ám như: thiên mạc mạc 天漠漠=trời mông lung, vũ mạc mạc 雨漠漠=mưa mờ mịt.

4. quảng khoát như hoang nguyên mạc mạc 荒原漠漠 = bình nguyêng hoang dã rộng mênh mông.

(4) Mạc mạc yên như chức漠漠 烟如织 khói chiều dầy đặc trông như dệt.

(5) Thương tâm伤心:đau lòng, đau buồn hay vui sướng đều có thể dùng chữ "thương tâm".

(6) Minh sắc 暝色:bóng tối, bóng đêm.

(7) Ngọc giai玉階:thềm ngọc, chữ ngọc làm cho danh từ "thềm" thêm đẹp đẽ. Bản khác chép Ngọc thê玉梯: thang ngọc.

(8) Trữ lập佇 立:đứng lâu.

(9) Túc điểu 宿鳥: chim đã đến lúc muốn ngủ, chim buồn ngủ.

(10) Quy trình 歸程: đường về.

(11) Trường đình canh đoản đình: cứ mỗi10 dặm có trường đình, 5 dặm có đoản đình; ám chỉ đường xa diệu vợi.

Phỏng Dịch:

(1) Đường Về

Rừng bằng khói dệt chiều tha thiết,

Hàn san một dẫy buồn xanh biếc.

Bóng tối phủ lầu cao,

Có người đang nhuốm sầu.

Trước thềm yên ủ rũ,

Vội vã chim về tổ.

Đường đến chốn quê hương,

Trùng trùng ngàn dặm trường.

(2) Đường Về

Bình lâm mờ mịt khói bay,

Hàn San núi biếc như lây muộn phiền.

Lầu cao bóng tối triền miên,

Người buồn đứng lặng trước thềm ngẩn ngơ.

Chim bay tìm tổ chiều mơ,

Đường về vời vợi chơ vơ bóng hình.

Trường đình lại tới đoản đình.

Cô thôn viễn thủy, nhớ tình cố hương.

HHD




Thưa các Anh Chị,

Đầu năm Hàn nho HHD ra bài cổ thi "khó" quá.

Thôi thì cũng ráng tập tành học theo để làm bài thơ kèm theo đúng thể thơ của

bài nguyên thủy.

Cũng xin hỏi anh HHD là câu 3 và câu 8 trong bài hơi khác với thể thơ mà anh HHD đã giải thích cho chúng ta biết.

B T T B B (câu 3)

B B B T B (câu 8)

Nếu tôi nhầm thì xin miễn thứ.

Đàm Giang

*

Vọng quê hương

Rừng xa phẳng khói mây giăng mắc

Hàng hàng núi lạnh màu xanh ngắt

Lầu thượng ngập màn đêm

Rũ người buồn đứng yên

Cạnh thềm đau xót khổ

Chim vội bay về tổ

Đường chốn cũ quê nhà

Ngàn trùng mờ mịt xa.

Đàm Giang

Ngày 9 tháng 1, 2017


* Xin góp 2 bài. Một phỏng dịch một phóng tác.

LB

LỐI VỀ...

(I)

Rừng trải mênh mông khói thêu dệt

Núi buồn một dãy xanh biêng biếc

Bóng tối tỏa lầu cao

Người trên đó ôm sầu

Thềm ngọc im chờ đợi

Chim chiều bay về vội

Nơi nao chốn quê mình?

Đoản đình lại trường đình!!

(II)

Rừng già dâng khói dệt

Núi lạnh sầu xanh biếc

Bóng tối phủ lầu cao

Người buồn trông ngóng miết

Thềm ngoan đứng lặng yên

Chim mỏi chưa về hết

Tự hỏi đâu quê nhà

Nghìn trùng mây nối tiếp!!

Lộc Bắc

Jan17


ĐƯỜNG XA

Rừng vắng tỏa khói mây

Núi xanh lạnh dâng đầy

Lầu cao chiều xuống thấp

Lặng buồn ngắm hàng cây

Chim mõi cánh bay về

Đường xa dài lê thê

Quê nhà tìm chưa thấy

Thương nhớ tỏa sơn khê.

Bạch Nga


*Cũng xin tiếp một bài phóng tác.

Vọng quê nhà

Rừng xa lặng phủ khói sương

Núi xanh lạnh lẽo như vương nỗi sầu

Bóng đêm xâm nhập lầu cao

Người đứng lòng dạ nôn nao buồn phiền

Chim bay về gấp tổ êm

Hoài về quê cũ chẳng yên nỗi lòng

Đường trường quá thể viễn vông

Ngàn trùng xa cách nhớ mong miệt mài.

January 09, 2017

Đàm Giang


* Chân thành cảm ơn chị Đàm Giang đã nhanh chóng phiên dịch bài từ theo điệu Bồ Tát Man của Lý Bạch, một thể điệu từ có lâu đời nhất.

Xin trả lời chị Đàm Giang về từ điệu như sau:

Câu thứ ba: 暝色入高樓 Minh sắc nhập cao lâu. Chữ minh phát âm theo tiếng quan thoại là "míng", tương đương như "miểng" của VN, thanh trắc, thì sẽ hợp với quy luật là TTTBB (vận).

Câu thứ 8: 長亭更短亭 Trường đình cánh đoản đình. Chữ cánh hay canh phát âm theo tiếng quan thoại là gèng hay geng theo 2 nghĩa khác nhau. Trong bài từ này tôi nghĩ tác giả muốn dùng chữ cánh gèng có nghĩa là "lại", "lại thêm", "lại nữa"...như vậy là không hợp với từ điệu (phải là thanh B). Ngoài ra nữa thì tôi không biết và còn phải nghiên cứu thêm.

Một số nhà thơ khi làm "từ", họ chỉ để ý đến "thơ" mà không cần thật sát với từ điệu. Thí dụ như họ có thể đã áp dụng luật "Nhất tam ngũ bất luận" vào câu thơ của bài từ.

Ví như trong câu hát "Đường về đêm nay vắng tanh" (bài Kiếp Nghèo của Lam Phương), nếu mình sửa thành "Đường về tối nay vắng tanh" thì khi hát lên nghe thấy chỏi ở chữ "tối" nhưng về luật thơ thì không mấy thay đổi. Khổ thứ 2 của câu thơ là "tối nay", chữ thứ 2 "nay" là thanh bằng thì khổ này cũng có thanh bằng tương đương như "đêm nay" vậy.

Còn như mình không biết từ điệu như thế nào thì làm theo thể thơ cũng đủ hay rồi.

Hy vọng đã giải thích được thắc mắc của chị Đàm Giang. Nếu chị có thắc mắc xin cứ nêu lên. Nếu tôi biết sẽ giải đáp cặn kẽ.

Chúc lành,

HHD

N.B. Tôi xin sửa lại chú thích số (4) như sau:

(4) Mạc mạc yên như chức漠漠 烟如织 khói chiều dầy đặc trông như dệt. Xin sửa là: (4) Yên như chức 烟如织 khói trông như dệt.

Chân thành cảm ơn quý anh chị: Đàm Giang, Lộc Bắc, Bạch Nga ...

HHD


Về Đầu Trang
MAI THO



Ngày tham gia: 20 Apr 2011
Số bài: 5760

Bài gửiGửi: Tue Feb 07, 2017 11:02 pm    Tiêu đề: Ngọc Mai Lệnh - Khương Quỳ


Ngọc Mai Lệnh - Khương Quỳ


玉梅令 - 姜夔

疏疏雪片。

散入溪南苑。

春寒鎖、舊家亭館。

有玉梅幾樹,

背立怨東風,

高花未吐,

暗香已遠。

公來領略,

梅花能勸。

花長好、願公更健。

便揉春為酒,

剪雪作新詩,

拚一日、繞花千轉。

Phiên Âm:

Ngọc Mai Lệnh (1) (2) - Khương Quỳ

Sơ sơ tuyết phiến.

Xuân hàn tỏa, cựu gia đình quán. (3)

Hữu ngọc mai (4) kỷ thụ,

Bối lập oán đông phong, (5)

Cao hoa vị thổ, (6)

Ám hương (7) dĩ viễn.

Công lai lãnh lược, (8)

Mai hoa năng khuyến. (9)

Hoa trường hảo, nguyện công cánh kiện.

Tiện nhu (10) xuân vi tửu,

Tiễn tuyết tác tân thi,

Phiên (11) nhất nhật, nhiễu hoa thiên chuyển.

Dịch Nghĩa:

Bài từ theo điệu Ngọc Mai Lệnh của Khương Quỳ.

Mảnh tuyết thưa thưa.

Tan tác bay vào suối trong vườn phía nam.

Xuân lạnh khóa đình quán nhà xưa.

Có vài cây ngọc mai,

Đứng sững oán gió đông,

Hoa cao chưa nhả,

Hương thơm đã bay xa.

Ông đến thưởng ngoạn?

Hoa mai có thể khuyên mời.

Hoa đẹp mãi, chúc ông luôn mạnh.

Bèn vò xuân làm rượu,

Cắt tuyết làm câu thơ mới,

Qua một ngày, lượn quanh hoa nghìn lần.

Chú Thích:

(1) Ngọc mai lệnh玉梅令: tên từ điệu, gồm 66 chữ, đọan trước có 7 câu, 4 trắc vận, đoạn sau có 6 câu, 3 trắc vận.

Định Thức:

B B T T (vận) sơ sơ tuyết phiến

T T B B T (vận) tán nhập khê nam uyển

B B T, T B B T (vận) xuân hàn tỏa, cựu gia đình quán

T T B T T, hữu ngọc mai kỷ thụ

T T T B B, bối lập oán đông phong

B B T T, cao hoa vị thổ

T B T T (vận) ám hương dĩ viễn

B B T T, Công lai lãnh lược

B B B T (vận) mai hoa năng khuyến

B B T, T B T T (vận) hoa trường hảo, nguyện công cánh kiện

T T B B T, tiện nhu xuân vi tửu

T T T B B, tiễn tuyết tác tân thi

B T T, T B B T (vận) phiên nhất nhật, nhiễu hoa thiên chuyển

Bản khác chép “B T T hoa vị thổ” thay thế cho câu “B B T T cao hoa vị thổ”

Và “B T B B T mai hạ hoa năng khuyến” thay câu “B B B T mai hoa năng khuyến”.

(2) Lời chú của tác giả Khương Quỳ:

“Thạch Hồ làm ra thanh điệu này nhưng chưa có lời nên sai tôi đặt” (Thạch Hồ là bạn thân của Khương Quỳ).

(3) Đình quán亭館: Phòng xá để nghỉ ngơi lúc du ngoạn.

(4) Ngọc mai 玉梅: chữ ngọc dùng để mỹ xưng cây mai.

(5) Bối lập oán đông phong 背立怨東風: đứng thẳng để kháng gió xuân lạnh

(6) Thổ: nhổ ra, nhả ra, phát ra, thổ tú吐秀= nở hoa

(7) Ám hương 暗香: mùi thơm thoang thoảng.

(8) Lãnh lược 領略: có nhiều nghĩa, trong bài này có nghĩa là hân thưởng欣赏, thưởng ngoạn赏玩. Bản khác chép 領 客= đón khách.

(9) Khuyến 勸: khuyên bảo, khích lệ, mời như khuyến tửu= mời uống rượu.

(10) Nhu 揉: dụi, xoa, dày, vò. Âm quan thoại là róu, trắc thanh.

(11) Phiên拚: nguyên là chữ “biện拚”. Ở trong bài này chữ “拚”đọc là “phiên”= 翻 có nghĩa là lật qua, dở qua, vượt qua. Bản khác chép “Bạn nhất nhật 拌一日” = qua một ngày, bỏ một ngày.Trong bài này chữ 拌 đọc là phan cũng có nghĩa như chữ拚.

Phỏng Dịch:

Ngọc Mai

Lưa thưa hoa tuyết bay tan tác,

Dòng suối vườn nam xuân lạnh lùng.

Khóa chặt nhà xưa đình quán cũ,

Ngọc mai vài gốc oán đông phong.

Cành cao hoa nụ chưa khoe sắc,

Thoang thoảng u hương tỏa khắp nơi.

Viễn khách dừng chân vui thưởng ngoạn,

Mai hoa linh hoạt biết khuyên mời.

Hoa tươi mãi, chúc người khang, kiện,

Vò sắc xuân thành chén rượu nồng.

Bẻ hạt tuyết, vần thơ mới dệt,

Quanh hoa, ngày hết, lượn ngàn vòng.

HHD 2-2-2017

Bản dịch của Lộc Bắc:

NGỌC MAI LỆNH

(I)

Lưa thưa tuyết rũ

Len vào vườn nam tụ

Xuân lạnh khóa quán xưa phòng cũ

Vài cây mai cổ thụ

Đứng thẳng oán gió đông

Hoa chưa nở

Hương thầm lan phủ

Khách đến thưởng ngoạn

Hoa mai khuyến dụ

Hoa tốt tươi, chúc người uy vũ

Bèn vò xuân làm rượu

Cắt tuyết tạo thành thơ

Suốt một ngày, quanh hoa vui thú

(II)

Đông hết lưa thưa màn tuyết rũ

Khe vườn nam rán len vào tụ

Quán xưa xuân lạnh khép lối vào

Lác đác ngoài sau mai cổ thụ

Ngọc mai lưng thẳng oán đông phong

Hoa còn nụ

Mà hương đà lan phủ

Khuyến dụ khách tri âm

Hoa tươi tốt chúc người uy vũ

Chế rượu hương nồng vò sắc xuân

Cắt tuyết làm thơ mời trú ngụ

Quanh hoa lờ lượn biết bao lần!!

Lộc Bắc

Fev2017


XUÂN KHAI

Tuyết trắng lất phất bay

Suối lạnh có ai hay

Cửa nhà, đình quán khép

Gốc mai giận đông dài.

Cành cao mai còn nụ

Mùi thơm tỏa ngát trời

Khách xa dừng bước lữ

Hương hoa thoảng tiếng mời.

Mai hé cánh khai xuân

Rượu ngọt chúc an lành

Dệt vần thơ trên tuyết

Trọn ngày, hoa lượn quanh!

BACH NGA


Về Đầu Trang
MAI THO



Ngày tham gia: 20 Apr 2011
Số bài: 5760

Bài gửiGửi: Sun May 14, 2017 12:16 am    Tiêu đề: Ngự Nhai Hành


Ngự Nhai Hành


Ngự Nhai Hành của Phạm Trọng yêm

御街行 - 范仲淹

秋日懷舊

紛紛墜葉飄香砌。

夜寂靜,寒聲碎。

真珠簾卷玉樓空,

天淡銀河垂地。

年年今夜,

月華如練,

長是人千里。

愁腸已斷無由醉。

酒未到,先成淚。

殘燈明滅枕頭欹,

諳盡孤眠滋味。

都來此事,

眉間心上,

無計相迴避。

Phiên Âm:

Ngự Nhai Hành (1) - Phạm Trọng Yêm

Thu Nhật Hoài Cựu

Phân phân trụy (2) diệp phiêu hương thế. (3)

Dạ tịch tĩnh, hàn thanh túy. (4)

Chân châu (5) liêm quyển ngọc lâu không,

Thiên đạm (6) ngân hà thùy địa.

Niên niên kim dạ,

Nguyệt hoa (7) như luyện, (8)

Trường thị nhân thiên lý.

Sầu trường dĩ đoạn vô do (9) tuý,

Tửu vị đáo, tiên thành lệ.

Tàn đăng minh diệt (10) chẩm đầu y, (11)

Ám tận (12) cô miên tư vị. (13)

Đô lai (14) thử sự,

Mi gian tâm thượng, (15)

Vô kế tương hồi tỵ. (16)

Dịch Nghĩa:

Bài từ theo điệu Ngự Nhai Hành của Phạm Trọng Yêm.

Ngày Thu Nhớ chuyện xưa.

Tơi bời lá rụng trên thềm hoa.

Đêm vắng lặng, tiếng lạnh tan vỡ (xào xạc).

Rèm châu cuốn lên, lầu ngọc trống không,

Trời nhạt (trời trong xanh không mây) dải ngân hà dài tới đất (dài lê thê).

Hằng năm đêm nay,

Ánh trăng như lụa,

Mãi mãi người ngàn dặm.

Ruột sầu đã đứt, không cách gì hơn là say.

Rượu chưa đến (uống), trước đã thành lệ.

Đèn tàn mờ tỏ, dựa gối nằm.

Từng nếm mùi vị giấc ngủ cô đơn.

Tóm lại là việc này,

Giữa hàng mi, trong lòng người. (chau mày và dằn vặt trong lòng suy nghĩ)

Không có cách gì né tránh.

Bài từ này của Phạm Trọng Yêm gồm 78 chữ chia thành 2 đoạn. Mỗi đoạn có 4 trắc vận.

平平仄仄平平仄韻 B B T T B B T (vận)

中中仄讀平中仄韻 X X T (tạm dừng) B X T (vận)

平平平仄仄平平句 B B B T T B B

平仄平平平仄韻 B T B B B T (vận)

平平平仄句 B B B T

仄平平仄句 T B B T

平仄平平仄韻 B T B B T (vận)

B bình平 = bình thanh; T trắc仄 = trắc thanh; X trung中 = bất luận, có thể là Bình hay Trắc cũng được; Vận 韻 = vần; Đậu讀 = tạm dừng (nguyên là chữ độc讀 = đọc, dùng trong văn pháp thì phát âm là đậu) ; Cú 句 = hết câu.

Chú Thích:

1、Còn đọc là “Ngự Giai Hành”.

2、Bản khác chép “Đọa 墮“: rơi, thay vì trụy墜 cũng là rơi.

3、Hương thế香砌:thềm nhà có hoa rụng. Hương thế và ngọc thế thường được dùng trong văn chương xưa để chỉ thềm nhà.

4、Hàn thanh túy (chữ碎 còn đọc là toái) 寒聲碎:gió lạnh thổi lay động những lá rụng phát ra thanh âm.

5、Chân châu真珠:Trân châu珍珠 = ngọc trai.

6、Thiên đạm天淡:bầu trời xanh trong không có mây.

7、Nguyệt hoa月華:nguyệt quang月光 = ánh trăng.

8、Luyện練:lụa trắng.

9、Vô do無由:vô pháp無法 = không cách nào khác, không làm gì được; vô do tuý 無由醉 = câu này có nghĩa là không cách nào hơn là say

10、Minh diệt明滅:lúc sáng lúc mờ, khi mờ khi tỏ.

11、Y欹:dựa vào; chẩm đầu y枕頭欹= dựa vào gối.

12、Ám tận諳盡:từng trải qua, từng nếm qua.

13、Tư vị 滋味: mùi vị.

14、Đô lai都來:tóm lại là, tính là.

15、Tâm thượng 心上: trong lòng, trong tim.

16、Hồi tỵ 迴避: cũng đọc là hồi tịch = né tránh, to avoid, to withdraw.

Phỏng Dịch:

NgàyThu Nhớ Xưa

Thềm hoa tơi tả lá bay,

Đêm về lạnh lẽo gió lay xạc xào.

Châu liêm cuốn gọn lầu cao,

Trời xanh, vắng lặng, chòm sao ngân hà.

Hằng năm một buổi chiều tà,

Ánh trăng như lụa, người xa dặm ngàn.

Lòng buồn đứt đoạn vô vàn,

Tiêu sầu mượn rượu thế gian thường tình.

Rượu chưa uống, lệ long lanh,

Tàn đăng mờ tỏ, nghiêng mình gối đêm.

Cô đơn từng nếm hương điềm,

Hàng mi tấc dạ nỗi niềm khôn khuây.

HHD

THU NHỚ NGƯỜI

Thu đến vàng bay mãi chẳng thôi

Gió đêm xao xác cuối chân trời

Trăng sao vằng vặc ngân hà chiếu

Thềm vắng nhìn hoa thấy ngậm ngùi

Mượn rượu tiêu sầu quên thế sự

Nhấp môi chưa chạm lệ tuôn rơi

Lạnh lùng giấc ngủ đơn côi quá

Nỗi niềm tấc dạ khó buông lơi

Bạch Nga


Về Đầu Trang
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    TRUNG HỌC DUY TÂN - PHAN RANG -> Thơ Thời gian được tính theo giờ EST (U.S./Canada)
Trang 1 trong tổng số 1 trang



 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


    
Powered by phpBB © 2001, 2005 phpBB Group
Diễn Đàn Trung Học Duy Tân