TRUNG HỌC DUY TÂN - PHAN RANG TRUNG HỌC DUY TÂN - PHAN RANG
Nơi gặp gỡ của các Cựu Giáo Sư và Cựu Học Sinh Phan Rang - Ninh Thuận
 
 Trang BìaTrang Bìa   Photo Albums   Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Thành viênThành viên   NhómNhóm   Ghi danhGhi danh 
Kỷ Yếu  Mục Lục  Lý lịchLý lịch   Login để check tin nhắnLogin để check tin nhắn   Đăng NhậpĐăng Nhập 

BÉ HỌC LÀM THƠ - VÕ HỒNG

 
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    TRUNG HỌC DUY TÂN - PHAN RANG -> Sinh Hoạt của hậu duệ trung học Duy Tân
Xem chủ đề cũ hơn :: Xem chủ đề mới hơn  
Người Post Đầu Thông điệp
MAI THO



Ngày tham gia: 20 Apr 2011
Số bài: 5760

Bài gửiGửi: Tue May 14, 2013 5:54 pm    Tiêu đề: BÉ HỌC LÀM THƠ - VÕ HỒNG





Về Đầu Trang
MAI THO



Ngày tham gia: 20 Apr 2011
Số bài: 5760

Bài gửiGửi: Tue May 14, 2013 5:54 pm    Tiêu đề: BÉ HỌC LÀM THƠ - VÕ HỒNG

BÉ HỌC LÀM THƠ - VÕ HỒNG  
"Lộc Bắc Tặng Hậu Duệ Duy Tân"

Bài 1: Thể thơ Lục Bát


Nguyễn Thị Hạ Uyên là cô bé láng giềng ở kề sát nhà tôi. Một hôm ngày tháng Mười, cô bé từ bên sân nhà nói với sang:
- Thầy ơi! (tôi vốn làm nghề thầy giáo nên thường được tặng không tiếng Thầy) cô giáo Như Nguyện bắt bọn con làm báo tường nhân ngày 20 tháng 11. Phải làm văn, làm thơ, viết truyện.
- Làm thơ nữa hả ? Nếu muốn, qua đây thầy bày cho.
Tôi giảng cho em thế nào là Bằng (những chữ không có dấu giọng & chữ có dấu huyền), thế nào là Trắc (những chữ có dấu sắc, hỏi, ngã, nặng), thế nào là hiệp vần (ví dụ: Heo, Mèo hiệp với nhau, Lương, Trường, Phường hiệp với nhau). Tôi viết lên tấm bản đen nhỏ: 
    b       B       t     T      b       B (hiệp vần 1)
    b       B       t     T      b       B (hiệp vần 1)       t        B (vần 2)
    b       B       t     T      b       B (hiệp vần 2)
    b       B       t     T      b       B (hiệp vần 2)       t        B (hiệp vần 3)
 Tôi giảng:
Chữ B và  T viết hoa thì phải tuân theo răm rắp, còn chữ b và t viết thường thì không bắt buộc y theo. Ðể dễ nhớ có thể mượn câu này "Nhất tam ngũ bất luận. Nhị tứ lục phân minh" nghĩa là chữ thứ 1-3-5 thì sao cũng được, còn chữ thứ 2-4-6 thì phải thật đúng. Trong câu Bát (câu 8 chữ), tuy cùng Bằng nhưng một chữ có dấu huyền và một chữ không dấu :
Trăm năm trong cõi người ta 
Chữ Tài chữ Mệnh khéo là ghét nhau
                    ....
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng
Tôi bảo Hạ Uyên lấy tên các bạn trong lớp mà lắp vào dưới các chữ Bằng (B) và Trắc (T).
- Dễ lắm! Cứ Trâm là Bằng, Hải là Trắc. Khoa hiệp vần với Thoa với Hòa với Tòa .... Nào, em chép tên các bạn lên tờ giấy này. Gắng nhớ và chép cho đủ.
Hạ Uyên ngồi lặng lẽ ghi. Nơi trán khoảng giữa hai mắt hằn lên một nếp nhăn. Sau mươi phút em trao cho tôi tờ giấy. Tôi lẩm nhẩm đọc. Rồi nói :
- Thầy chọn giúp em mấy cái tên hiệp vần với nhau:Trang hiệp với Hoàng.  Chương hiệp với Tường và Hường. Còn những tên khác thì hễ Trắc thì ghi dưới T, Bằng thì ghi dưới B. Nhớ: dưới chữ t và b thì không bắt buộc phải đúng Bằng Trắc.
Kết quả sau 15 phút lắp ghép:
    b        B        t        T        b         B (vần 1)
 Ân      Bình   Cảnh   Chức Dung   Trang
    b        B         t        T        b         B (vần 1)  t        B (vần 2)
Danh   Ða     Gia    Huấn  Hiệp    Hoàng   Hội   Chương
    b        B         t        T        b         B (vần 2)
Kim    Khôi     Lan   Mạnh  Nam    Tường
    b        B         t        T        b         B (vần 2)  t        B (vần 3)
Oanh  Phùng  Quý   Toản  Xuân   Hường    Vũ     Uyên
Trước khi chia tay tôi mới cho em biết rằng em vừa làm thơ Lục Bát. Ông Nguyễn Du cũng làm vậy. Chắc chắn cô bé không dám tin rằng đó là sự thực. Nếu bài này làm ở lớp thì khi đọc lên cả lớp sẽ thích thú vỗ tay reo liền. Nhưng không phải là học sinh của lớp thì đọc lên rời rạc vô nghĩa. Nên tôi ra thêm một đề khác " những trái cây bày bán trong chợ". Kết quả chắc chắn sẽ vui hơn.
Hôm sau em trao cho tôi kết quả:   
    b        B         t         T        b        B (vần 1)
Hành   Ngò      Ớt      Tỏi     Tiêu   Dừa
    b        B         t        T        b         B (vần 1)  t        B (vần 2)
Mít     Cam     Quít    Ổi     Chuối  Dưa       Kiệu  Hành
    b        B         t         T        b        B (vần 2)
Gừng   Riềng  Nghệ   Sả     Bưởi   Chanh
    b        B         t         T        b         B (vần 2) t        B (vần 3)
Sầu     riêng   Vú       sửa    Cam     sành     Chôm  chôm
 
Rõ ràng là kết quả rất ... ngon miệng.

Bài 2: Bài thơ Lục Bát đầu tiên gửi Ba

[Võ Hồng  -  Bé học làm thơ ]

Trên tờ báo tường của lớp Năm A trường Tân Lập kỷ niệm ngày Hiến chương các nhà giáo có đăng bài thơ Lục bát của Hạ Uyên:
Tình thầy trò đẹp huy hoàng
Như bông hoa Huệ, hoa Lan thắm màu
Phận trò luôn nhớ làu làu
những lời cô dạy trước sau nằm lòng
Tôi khen:
- Hay quá há. Hiệp vần đúng. Chữ dùng chính.
  .....
Thấy Hạ Uyên yên lặng, tôi nói:
- Ðó như em thấy đó, làm thơ cũng không nổi quá khó. Câu nhập đề em có thể viết bằng nhiều cách, chẳng hạn "Tình thầy trò đẹp muôn màu ... tình thầy trò đẹp mhư hoa..." Có thể viết cách khác "Nhân ngày kỷ niệm Hiến chương " hoặc "Nhớ ơn cô giáo dạy mình" hoặc "Công cha nghĩa mẹ ơn thầy" ... Các câu sau cũng vậy. Biết bao nhiêu cách đặt câu, miễn đúng Luật Bằng Trắc và câu sau phải hiệp vần với câu trước. Cái khó là tìm cho được ý hay, chọn cho được lời hay. Làm thơ thiệt hay mới khó chớ làm thơ cho có thì dễ.
Hôm sau tôi bảo Hạ Uyên:
- Ba em đang làm vườn ở mãi Long Khánh. Em thường viết thư thăm. Lần này em hãy viết thư dưới dạng thơ Lục bát đi.
Hạ Uyên le lưỡi:
- Ai dám! Con biết gì mà dám làm thơ ?
Tôi khuyến khích:
- Thì cứ bắt đầu làm ... dở dở. Cứ viết như thường. Sau đó mình ngắt ra làm 4 câu. Chú ý chữ thứ 2-4-6-8 phải Bằng. Rồi chữ thứ 6 của câu Lục và chữ thứ 6 của câu Bát phải hiệp vần với nhau. Nào, bắt tay ngay. Em viết thư ngắn cho Ba em đi. Muốn thăm, muốn chúc, muốn hứa gì, tùy ý, như em vẫn viết.
Hạ Uyên nghe lời, - tánh dễ thương ở chỗ đó, - cầm giấy bút hì hục ngồi viết. Sau mười phút trao cho tôi tờ giấy. Nội dung: 
Nay con kính gởi lời thăm ba thân thương được mạnh giỏi. 
Cầu mong vườn cà - phê xanh tốt và đàn heo gà phát triển. 
Năm qua con có cố gắng siêng học. 
Cuối niên khóa được lên lớp thẳng và conđược tuyên dương toàn trường.
Tôi chỉ lên tấm bản đen nhỏ, nơi đó có Luật Bằng Trắc còn ghi rõ, chưa xoá. Góp ý với Hạ Uyên bỏ bớt đôi chữ. Ðổi chữ "phát triển" (T) bằng chữ "bình yên" (B) cho đúng vần Bằng. Lộn chữ "siêng học" thành "học siêng" để hiệp vần: yên và siêng. Thay chữ "tuyên dương" bằng chữ "khen" cho hiệp đúng vần (siêng và khen). Kết quả cuối cùng:
Nay con kính gởi lời thăm ba thân thương được mạnh giỏi. 
Cầu mong vườn cà  phê xanh tốt và đàn heo gà bình yên. 
Năm qua con có cố gắng học siêng. 
Cuối niên khóa được lên lớp thẳng và con được khen toàn trường.
 
Hạ Uyên lẩm nhẩm đọc lại rồi hít mũi, có vẻ như mắc cỡ . Riêng tôi thầm nghĩ: chắc chắn là ở Long Khánh, ông Nguyễn Hanh, cha của Hạ Uyên sẽ nghi ngờ đôi mắt mình khi đọc bài thơ, bởi không biết đây là sự thật hay là chuyện giả, chuyện chiêm bao. Vì thật khó mà tin rằng con gái nhỏ của mình đã làm được ... như vậy. Nó mới mười một tuổi thôi mà. Mới nhõng nhẽo bắt mình ẵm chạy quanh sân đây mà.

***Tự Thực Tập nhé !
                     good job !

    1       2       3    4      5       6                              7        8
    b       B       t     T      b       B (hiệp vần 1)
    b       B       t     T      b       B (hiệp vần 1)       t        B (vần 2)
    b       B       t     T      b       B (hiệp vần 2)
    b       B       t     T      b       B (hiệp vần 2)       t        B (hiệp vần 3)

"Nhất tam ngũ bất luận. Nhị tứ lục phân minh" nghĩa là chữ thứ 1-3-5 thì sao cũng được, còn chữ thứ 2-4-6 thì phải thật đúng .
Chúc Hậu Duệ Duy Tân Thành Công .





Được sửa bởi MAI THO ngày Thu May 16, 2013 10:17 pm; sửa lần 1.
Về Đầu Trang
MAI THO



Ngày tham gia: 20 Apr 2011
Số bài: 5760

Bài gửiGửi: Thu May 16, 2013 9:24 pm    Tiêu đề: BÉ HỌC LÀM THƠ - VÕ HỒNG





Về Đầu Trang
MAI THO



Ngày tham gia: 20 Apr 2011
Số bài: 5760

Bài gửiGửi: Thu May 16, 2013 9:37 pm    Tiêu đề: BÉ HỌC LÀM THƠ - VÕ HỒNG

BÉ HỌC LÀM THƠ - VÕ HỒNG  
"Lộc Bắc Tặng Hậu Duệ Duy Tân"

Bài 3: Thể Tứ Tuyệt (luật Bằng vần Bằng)

Hôm nay Hạ Uyên tập làm thơ Tứ Tuyệt, luật Bằng vần Bằng.
Nhắc lại: Căn cứ vào chữ thứ 2 của câu đầu, nếu là Bằng thì gọi là luật Bằng, nếu là Trắc thì gọi là luật Trắc. 
Chẳng lẽ cứ Gà Vịt Heo Bò lôi ra hoài, tôi đề nghị lấy tên những loài hoa cho nó ... nên thơ một chút. Kết quả:

   b        B        t         T        T        B        B (vần)
Sen     Ðào    Huệ   Cúc    Trúc    Mai     Lan
   t         T       b         B        t         T        B (vần)
Vạn    Thọ    Hồng Nhung Thược Dược  Trang
   t        T        b        B        B         T       T
Mỏm   sói     Tầm   xuân  Lài     Cẩm    Chướng
   b       B         t        T       T         B        B (vần)
Phù   dung   Dạ       lý      Bụt    Ngâu    Xoan

Coi vậy chớ kiếm cho ra 3 tên hoa có cùng vần "an" để hiệp vần không phải dễ, nên không thể không khen Hạ Uyên.
 Ðã quen làm hai lần, lần này Hạ Uyên cũng tự động làm bài "Chân dung em bé Nu". Bé Nu là em bé láng giềng lên một tuổi rưỡi, đang tập đi, mới tập nói.
Cũng lại bắt đầu viết bằng văn xuôi: "Bé Nu thấp lùn, chân cụt ngủn, cái bụng tròn vo. Mới một tuổi rưỡi mà bé thuộc được chữ O. Bé ưa vặn cái khóa cửa, ưa ngồi vọc cát, ưa ăn mứt gừng rồi hít hà. Người bé yếu nên trở trời là hay sốt với ho". Sau đó tới việc sắp xếp, lật tới trước, lộn ra sau, bớt chữ thêm chữ sao cho hợp với luật Bằng Trắc và luật hiệp vần. Cuối cùng tạm thoả thuận với nhau rằng:

Tả bé Nu:

Bé Nu chân ngắn bụng tròn vo
Tuổi rưỡi mà đã thuộc chữ O
Rất thích mứt gừng, ưa vặn khóa
Trở trời hết sốt lại ngồi ho.

Nghe cũng được! Tôi bảo Hạ Uyên:
- Thể thơ này gọi là Tứ Tuyệt. Ông Lê Thánh Tôn cũng làm y vậy.
Cố nhiên là em chẳng biết Lê Thánh Tôn là cái ông nào, làm gì, ở đâu. Chỉ biết có đường Lê Thánh Tôn chạy thẳng từ Ngã sáu Nhà Thờ xuống biển. Vậy thì ông này ắt cũng làm chức lớn.

Bài 4: Thể Tứ Tuyệt (luật Trắc vần Bằng)
[Võ Hồng  -  Bé học làm thơ ]


Tôi viết cấu trúc 4 câu Tứ Tuyệt, luật Trắc vần Bằng và bảo Hạ Uyên lấy tên những con vật lắp vào dưới những chữ B chữ T. 
Nhắc lại: những chữ không dấu hoặc có dấu Huyền là Bằng (B), có dấu Sắc, Hỏi, Ngã, Nặng là Trắc (T). Chữ thứ 2 của câu đầu, nếu là Bằng thì gọi là luật Bằng, nếu là Trắc thì gọi là luật Trắc. 
Ðể thêm thích thú, tôi đề nghị:
Câu 1: Những con thú sống trên rừng 
Câu 2: Những con vật nuôi trong nhà 
Câu 3: Những con chim bay trên trời 
Câu 4: Những con vật sống dưới nước
Hạ Uyên làm y theo. Và sau đây là kết quả:

Trong vườn Ðịa đàng:

  t         T         b        B        t        T      B (vần 1)
Gấu   Sói      Nai     Voi     Cá      Cọp    Beo
  b        B         t        T        T        B      B (vần 1)
Trâu  Bò      Chó    Chuột Ngựa  Dê      Heo
   b       B        t        T        b         B       T
Vịt    Gà     Ngan   Ngỗng Cu       Cò     Cút
   t       T         b         B       t         T       B (vần 1)
Cá     Ốc     Cua     Tôm    Cá      Mực   Mèo

Thật thoải mái khi tìm tên các loài chim bay thú chạy. Nhưng sang phần những con vật sống dưới nước thì kiếm hoài chẳng thấy tên con nào hiệp vần "eo". Bí quá đành lấp ẩu con ... mèo! Hy vọng trong tương lai khoa học sẽ phát hiện một giống Mèo nước như đã từng có: Ngựa nước (Hà mã), Chó nước (Hải cẩu).
Rút kinh nghiệm lần trước làm bài thơ Lục Bát gởi thăm cha, lần này tôi đề ra đề "chân dung tự họa" bằng cách lắp chữ vào cái sườn Bằng Trắc tôi đã bày.

Chân dung tự họa:

Mới đó mà tôi đã lớn hung
Nhớ hồi năm tuổi chạy lung tung
Tết đi theo mẹ ra coi chợ
Tiếng nói inh tai, pháo nổ đùng
 
Thú thật là tôi cũng có "viện trợ". Nhưng cũng chủ cỡ mười lăm phần trăm.


Bài 5: Thể Tứ Tuyệt vần Trắc

[Võ Hồng  -  Bé học làm thơ ]


Một hôm sau tôi bảo Hạ Uyên:
- Luôn trong mấy kỳ, em thấy hợp vần thì phải là vần Bằng. Thông thường là như vậy chớ không nhất thiết. Vẫn có thể hiệp vần Trắc, như bài sau đây mà nhiều người thuộc

Nùng Nhị từ xưa mở đất cõi
Nghìn năm vượng khí nơi đô hội
Người đủ hạng người, trò đủ trò
Ðua nhau thanh lịch cũng lắm lối
 
Người ta gọi thể này là Luật Trắc (Nhị) Vần Trắc (Cõi)
Tôi liền viết cấu trúc một bài Tứ Tuyệt Luật Trắc vần Trắc và mời Hạ Uyên lắp chữ. Hai hôm sau em luồn qua khe cửa trao tờ kết quả: 
Chị thân thương của em:

Chị cả ở nhà quen gọi Trúc
Học về chịu khó lo bếp núc
Cơm, canh, xào, nấu, luộc, quay, ram ...
Bưng lên anh Hải tha hồ xúc
 
Anh Hải hoàn toàn không ngờ con em tinh nghịch đang "chọc quê" mình. Cứ tay rỉa ghi-ta  miệng ê a hát "em ơi nếu mộng không thành thì sao ..."

***Phần thực tập :

Thơ Tứ Tuyệt, luật Bằng vần Bằng

b        B        t         T        T        B        B (vần)

t         T        b         B        t        T        B (vần)

t         T        b         B        B        T       T

b        B         t         T        T        B        B (vần)

Thơ Tứ Tuyệt (luật Trắc vần Bằng)

t         T         b        B        t        T      B (vần 1)

b        B         t         T        T        B      B (vần 1)

b        B         t         T        b        B      T

t         T         b        B        t         T      B (vần 1)

(cố gắng, cố gắng, cố gắng & Có công mài sắt, có ngày nên kim)


                                                                                                                (Còn tiếp)

Về Đầu Trang
MAI THO



Ngày tham gia: 20 Apr 2011
Số bài: 5760

Bài gửiGửi: Sun May 19, 2013 3:48 pm    Tiêu đề: Thất ngôn bát cú Ðường Luật & Song Thất Lục Bát

BÉ HỌC LÀM THƠ - VÕ HỒNG  
"Lộc Bắc Tặng Hậu Duệ Duy Tân"






Bài 6: Thất ngôn bát cú Ðường Luật 
và Song Thất Lục Bát


      Ðã trót đa mang, đã lỡ sanh sự bày làm thơ Lục bát và Tứ tuyệt rồi thì - phóng lao phải theo lao, - đành bày tiếp thể Thất ngôn bát cú. Chớ không thì sao nó cứ ấm ức, làm như mình mắc nợ. Vả chăng cứ biết "Heo là Bằng Chó là Trắc" rồi thì có thể loại nào dám tự xưng là khó? Cái khó là chọn được ý hay, chọn được lời hay chớ với cái lối tiếp xúc làm quen thô thiển này thì đến các thể Sớ, Tấu, Cáo, Biểu... e rằng Hạ Uyên cũng chẳng ngán.
      Nghĩ vậy, tôi liền lặng lẽ viết  b B  t  T  theo cấu trúc một bài Thất ngôn bát cú Ðường luật rồi trao cho Hạ Uyên. Kèm theo trái xoài. Có chú thích, nhưng chỉ chú thích phần trái xoài: "Xoài Cát đó, ngọt lắm". Còn phần thơ văn thì cứ coi theo tờ giấy mà lắp chữ, mà thực hiện. Cứ theo đơn đặt hàng - dựa theo chú thích bên tay phải - "Các món nàng ăn, những thức uống... " mà tùy nghi lắp chữ Bằng hay Trắc.
      Như do một phép lạ nho nhỏ, hai ngày sau, tờ giấy được đưa lọt qua khe cửa. Tôi đọc:
      Nghĩ về một người
        b         B         t        T        T         b        B (vần 1)
      Chiên  Xào   Kho    Nướng Luộc   Cơm  Canh   (Các món nàng ăn)
         t        T         b        B        t          T        B (vần 1)
      Bia     rượu   Cà    Phê      Nước   đá      chanh  (Những thức uống)
         t        T         b        B       B          T       T
      Son    phấn   Nước  hoa    Keo      xịt      tóc      (Món trang sức)
         b       B         t         T       T         B         B (vần 1)
      Thun  Len     Xoa    xuýt   Lụa      tơ       Lanh   (Hàng may mặc)
        b       B         t         T       b         B         T (vần 1)
      Xi      nê       Nhạc   hội    Ban     khiêu   vũ       (Món tiêu khiển)
        t        T         b        B        t          T        B (vần 1)
      Tứ    sắc       Bài     cào   Xóc      dĩa      sành    (Môn bài bạc)
        t        T         b        B       B          T       T
      Nói   tục      Ăn      hàng  Chôm   Chỉa  Chửi   (Những tật xấu)
         b       B         t       T       T         B         B (vần 1)
      Ngu   Khờ    Khôn   Dại   Láu     Tinh   ranh     (Ðủ loại tính nết)
       
      Thừa thắng xông lên, hôm sau tôi lại đưa một bản b  B  t  T nữa. Và khi hồi âm, tờ giấy mang nội dung này:
      Ngôi nhà em
          B        b         T        t        B           b        T (vần 1)  
      Ðường  vô      xóm     có      con     mương  nhỏ
          b        B         b        T       T (vần 1)  b        B (vần 2)
      Hai      bên    đường  mọc   cỏ        cùng     cây    
          b        B         t         T       b          B (vần 2)
      Nhà     em       mái     ngói  cổng     xây
          b        B         t         T       b          B (vần 2)   t        B (vần 3)
      Trong  sân     vịt       chạy  thành    bầy      thiệt    vui
      Tôi vuốt tóc em, khen:
      - Giỏi lắm. Thầy định không nói, sợ làm rộn óc em, nhưng cuối cùng không giữ được. Ðó là: bài "Nghĩ về một người" là theo thể Thất ngôn bát cú Ðường luật. Bài "Ngôi nhà em" là theo thể Song thất lục bát. Nghe có oai không? Nhưng thôi, biết đại khái cho vui vậy thôi, để lên lớp 9, lớp 10 em sẽ học.

***Phần tự thực tập

Thất ngôn bát cú Ðường Luật 


b        B         t        T        T         b       B (vần 1)
     
t         T         b       B        t          T       B (vần 1)
     
t         T         b       B        B         T        T
   
b        B         t        T        T         B        B (vần 1)
 
b        B         t        T        b         B        T (vần 1)
     
t         T         b        B        t         T        B (vần 1)
   
t         T         b        B        B        T        T
     
b        B         t         T        T         B        B (vần 1)



Song Thất Lục Bát

B        b         T        t        B           b        T (vần 1)  
 
b        B         b        T       T (vần 1)  b        B (vần 2)
   
b        B         t         T       b          B (vần 2)
   
b        B         t         T       b          B (vần 2)   t        B (vần 3)


Chúc tất cả cố gắng & thành công .


     











Về Đầu Trang
MAI THO



Ngày tham gia: 20 Apr 2011
Số bài: 5760

Bài gửiGửi: Fri May 24, 2013 3:45 pm    Tiêu đề: Thể thơ Ngũ ngôn & Tam ngôn



Bài 7: Thể thơ Ngũ ngôn




     
BÉ HỌC LÀM THƠ - VÕ HỒNG  
"Lộc Bắc Tặng Hậu Duệ Duy Tân"
       
      Hạ Uyên kêu tôi:
      - Thầy ơi, có cái bài thơ này đây, trong cuốn Giảng văn cũ của má con. Thơ gì mà ngó ốm nhách.
      - Sao lại có thơ ốm nhách? Thơ hay thơ dở chớ sao lại có thơ mập ốm?
      Mỗi câu chỉ có 5 chữ nên bài thơ ngó dài ngoẵng. Ðây con đọc cho thầy nghe:
      Giỏi thay Trần Quốc Toản
      Tuổi trẻ dư can đảm
      Dốc bụng báo hoàng ân
      Cả gan bình quốc nạn
      - À, biết rồi. Tại mỗi câu chỉ có năm chữ. Ðây thầy hỏi em: bảy chữ, chữ Nho gọi là Thất ngôn, vậy năm chữ gọi là...?
      - Tứ ngôn.
      - Trật lất. Tứ mới có bốn. Ngũ mới là năm. Thể thơ vừa rồi là thơ Ngũ ngôn.
      Hạ Uyên nài nỉ:
      - Thầy bày cho con đi! Thầy dạy con...
      - Không dạy cũng biết. Dễ lắm. Cứ bài Thất ngôn, con cắt bỏ hai chữ đầu của mỗi câu. Thử lấy bài "Heo... Gà" làm thí nghiệm.
      Hạ Uyên chạy lục kiếm bài thơ. Rồi dõng dạc đọc:

      Trong vườn Ðịa đàng:                                              NGŨ NGÔN (Trong vườn địa đàng)

      Gấu   Sói      Nai     Voi     Cá      Cọp    Beo              Nai     Voi     Cá      Cọp    Beo
      Trâu  Bò      Chó    Chuột Ngựa  Dê      Heo              Chó    Chuột Ngựa  Dê      Heo
      Vịt    Gà     Ngan   Ngỗng Cu       Cò     Cút               Ngan   Ngỗng Cu       Cò     Cút
      Cá     Ốc     Cua     Tôm    Cá      Mực   Mèo              Cua     Tôm    Cá      Mực   Mèo
      Tôi không ngờ kết quả hấp dẫn hơn tôi đã nghĩ, nên tôi bảo: Ngũ ngôn hóa nuôn bài tả bé Nu.
      Hạ Uyên không đợi nài:
      Tả bé Nu:                                                                   NGŨ NGÔN ( Tả bé Nu )

      Bé Nu chân ngắn bụng tròn vo                                  Chân ngắn bụng tròn vo
      Tuổi rưỡi mà đã thuộc chữ O                                     Mà đã thuộc chữ O
      Rất thích mức gừng, ưa vặn khóa                              Mức gừng, ưa vặn khóa
      Trở trời hết sốt lại ngồi ho.                                       Hết sốt lại ngồi ho.
       
      Sang bài "Trăm hoa khoe sắc". Ðang ở thể Thất ngôn luật Bằng vần Bằng mà cắt thành Ngũ ngôn thì hoá thành luật Trắc vần Bằng. Hạ Uyên đọc:
       
      Trăm hoa khoe sắc                                                      NGŨ NGÔN (Trăm hoa khoe sắc)

      Sen     Ðào   Huệ   Cúc    Trúc    Mai     Lan                Huệ   Cúc    Trúc    Mai     Lan
      Vạn    Thọ    Hồng Nhung Thược Dược  Trang              Hồng Nhung Thược Dược  Trang
      Mỏm   sói     Tầm   xuân  Lài     Cẩm    Chướng          Tầm   xuân  Lài     Cẩm    Chướng
      Phù   dung   Dạ       lý      Bụt    Ngâu    Xoan.            Dạ       lý      Bụt    Ngâu    Xoan.
       
      Không bỏ lỡ bài thơ tặng, Hạ Uyên cố ý đọc to cho chị và anh nghe:
       
      Chị thân thương của em                                                NGŨ NGÔN (Chị thân thương của em)

      Chị cả    ở nhà quen gọi Trúc                                      Ở nhà quen gọi Trúc
      Học về   chịu khó lo bếp núc                                       Chịu khó lo bếp núc
      Cơm, canh  xào, nấu, luộc, quay, ram...                     Xào, nấu, luộc, quay, ram...
      Bưng lên  anh Hải tha hồ xúc.                                     Anh Hải tha hồ xúc.
       
      Sau một giây im lặng, tôi nói:
       
      - Vậy đó, muốn làm thơ Ngũ ngôn thì cứ theo cái cấu trúc Thất ngôn, cắt bỏ 2 chữ đầu. Hôm nay thầy thêm 3 cách hiệp vần khác, do ảnh hưởng của cách hiệp vần trong thơ Pháp. Ðó là:
       
      1: Chữ chót của câu 1 hiệp vần với chữ chót của câu 2
          Chữ chót của câu 3 hiệp vần với chữ chót của câu 4
       
      2: Chữ chót của câu 1 hiệp vần với chữ chót của câu 3
          Chữ chót của câu 2 hiệp vần với chữ chót của câu 4
       
      3: Chữ chót của câu 1 hiệp vần với chữ chót của câu 4
          Chữ chót của câu 2 hiệp vần với chữ chót của câu 3
       
      Nghe thì rùm beng. lộn đầu. Áp dụng ngay thì thấy dễ. Nào, nói là làm. Em làm 4 câu Ngũ ngôn, hiệp vần theo cách thứ nhất (tạm gọi là Vần liền). Ðề: "Tả em Cuội".
       
      Tả em Cuội

      Da trắng và mắt trong
      Tóc nâu và môi hồng
      Nhỏ mà ưa chải chuốt
      Chữ O đọc không thuộc.
       
      Áp dụng hiệp vần theo cách thứ hai (tạm gọi là Vần chéo). Ðề:

      "Tả con chó nâu".
       
      Con chó nâu của em
      Vừa sủa vừa chạy lui
      Giữ nhà cái kiểu đó
      Tối: xó bếp ngủ vùi
      Vậy cũng lãnh chức chó.
       
      Áp dụng hiệp vần theo cách thứ ba (tạm gọi là Vần ôm). Ðề: "Ngày rằm lên chùa". Kết quả:
       
      Ngày rằm lên chùa

      Rằm theo Ngoại lên chùa
      Nghe tiếng kinh tiếng mõ
      Xạc xào nghe tiếng gió
      Chốc chốc tiếng chuông khua.

      Khi sắp chia tay Hạ Uyên bảo tôi:
      - Thầy bày luôn cho con thể Tam ngôn.
      - Là cái gì?
      - Tam nghĩa là ba. Thơ Thất ngôn cắt đi 2 chữ thành Ngũ ngôn. Nay thơ Ngũ ngôn ta cắt đi 2 chữ thì ắt thành Tam ngôn.
      Tôi cười:
      - Em có ý hay đó. Nhưng tổ tiên mình thì gọi nôm na nó là Hò vè bình dân. Như ở quê thầy trẻ nhỏ thường hát:

      Tập tầm vông             Chị ăn cá                    Chị mút mật
      Chị lấy chồng            Em ăn xương               Em nút ve
      Em ở vá                     Chị nằm giường           Chị ăn chè
                                        Em nằm đất                  Em liếm chén

      Nhìn xuống đồng hồ thấy đã năm giờ rưỡi, tôi liền cười vừa cuối đầu chào:

      Thôi, em về
      Lo cơm tối
      Nói say mê
      Ta cũng mỏi.


***Phần tự thực tập


Thơ Ngũ Ngôn (Luật Bằng vần Bằng)

t         T        T        B        B (vần)

b         B        t        T        B (vần)

b         B        B        T       T

t         T        T        B        B (vần)

Thơ Ngũ Ngôn (luật Trắc vần Bằng)

b        B        t        T      B (vần 1)

t         T        T        B      B (vần 1)

t         T        b        B      T

b        B        t         T      B (vần 1)

Chúc Hậu Duệ Duy Tân thành công !



Về Đầu Trang
MAI THO



Ngày tham gia: 20 Apr 2011
Số bài: 5760

Bài gửiGửi: Wed May 29, 2013 12:26 pm    Tiêu đề: Bài 8: Thể thơ mới



Bài 8: Thể thơ mới


      Bài 8: Thể thơ mới

BÉ HỌC LÀM THƠ - VÕ HỒNG  
"Lộc Bắc Tặng Hậu Duệ"
       
     
      Lần này thì không phải là Hạ Uyên, mà là Trúc, người chị rất thân thương của Hạ Uyên. Trúc rụt rè trao tôi tờ giấy, vừa nói:
      - Thầy coi dùm, bài thơ kiểu gì vậy?
      Tôi chuẩn bị để đọc một lời đe dọa "khát máu", kiểu thách đấu gươm của thế kỷ thứ 16. Nhưng không. hiền hòa. thơ mộng:
      Mình nhớ hoài: một buổi sáng tàn Ðông
      Ai đó đơn sơ màu áo len hồng
      Mái tóc xỏa dài, ngồi đùa với cháu
      Sau lưng, vạn thọ chớm nở vài bông
      Ðợi tôi ngẩng lên, Trúc hỏi:
      Bài thơ kiểu gì vậy thầy? Thể gì vậy? Con có hỏi con Hạ Uyên, nó lên mặt khôn, nói: "Ðường luật đây chớ gì. Thất ngôn luật Trắc (nhớ) vần Bằng (Ðông). Nhưng khi đếm lại thấy lòi dư một chữ. Bà nhỏ nghẹn họng.
      Tôi không nén được tiếng cười "hà hà" vừa nói:
      - Tưởng nó đính chính ngay: "thơ Bát ngôn chớ gì". Chuyên viên đếm chữ đặt tên là nó.
      Vẻ mặt Trúc trầm ngâm:
      - Con muốn hiểu cách đặt loại thơ này.
      - Ðể chi? Thi tốt nghiệp trung học đâu có đòi hỏi?
      - Nhưng mà con muốn làm.
      - À, biết rồi. Bài này của "ảnh" chớ gì. Muốn họa lại ảnh chớ gì. Ðược. Chắc Hạ Uyên đã bày lại cho em căn bản luật thơ rồi. Chữ chót của câu 1-2-4 hiệp vần với nhau: Ðông, Hồng, Bông. Mỗi câu thường được ngắt làm 3 nhịp như ở thơ Thất ngôn. Nhưng khác là số chữ ở mỗi nhịp không bắt buộc (khi thì 3, khi thì 2) miễn sao mỗi câu có đúng 8 chữ.
      - Sao có loại thơ "khỏe" vậy?
      - Nó chịu ảnh hưởng ở thơ Pháp, mà chặng 1940 ta gọi là thơ Mới. Tiếng Pháp không có thanh Bằng thanh Trắc, chỉ cần hiệp vần ở thanh chót của mỗi câu. Như đen (chandelle: cây đèn) hiệp với ben (belle: đẹp). Như lăng (filant: kéo sợi) hiệp với giăng (émerveillant: ngạc nhiên) (1). Các chữ ở giữa câu thì tha hồ, chỉ cần đếm đủ 12 âm hay 8 âm (họ gọi là chân: pied).
      - Nhưng đọc luôn một hơi 12 tiếng thì mệt lắm, hụt hơi. Phải ngắt nhịp chớ.
      - Ðúng vậy. Tiếng ta giàu âm thanh nên ta giữ cái ưu điểm của ta, ta ngắt làm 3 nhịp. Và thường là .. B.. T.. B (vần)   hoặc... T.. B.. T (vần). Uấy, nói ra thì nó dài dòng, lôi thôi, rối rắm. Bắt tay cụ thể thì dễ hơn. Nào, em làm bài trả lời. Ðặt câu đầu: 8 chữ. Ngắt làm 3 nhịp. Chữ chót vần Bằng.
      Vẻ mặt Trúc nghiêm trang. Ngồi xoay qua trở lại. Ngần ngừ rồi rụt rè xoá bỏ. Ngó ra sân rồi ngó xuống sàn nhà. Một lát sau, bẽn lẽn đọc:  
      -  Xuân đang về chậu Cúc đã đơm hoa
      - Hay đó. "hoa" vần oa. Nếu kiếm không ra thì dùng vần a cũng được.
      Trúc tiếp liền:
      - Thược dược rung rinh trước những hiên nhà
      - Hay lắm, câu thứ 3 thì dễ hơn vì không cần phải hiệp vần. Nào...
      Trúc loay hoay. Lạ. Không cần hiệp vần, bất chấp Bằng Trắc, chỉ kiếm đủ 8 chữ nói về chuyện Tết chuyện Xuân. Dễ quá mà. À, có thể vì dễ quá mà con người không thích. Phải tìm cho ra cái khó để có nét độc đáo. Nhưng kìa, Trúc trao tờ giấy cho tôi. Có viết câu thơ thứ 3: Tết sẽ đem về niềm vui phấn khởi.
      - Tuyệt! Có thể thay chữ phấn khởi bằng chữ rộng khắp chẳng hạn. Cho nó giản dị, bớt công thức: Tết sẽ đem về niềm vui rộng khắp. Chữ khắp cũng bắt đầu bằng KH như chữ Khởi.
      Biết tôi chọc quê, Trúc mĩm cười, tôi dục:
      - Còn câu chót?
      - Vui ở thôn gần, vui mãi làng xa
      Bỗng có tiếng chuông gọi cổng. Tôi vội vàng đứng dậy.
      - Vậy là em hiểu đại cương. Áp dụng ngay đi. về hỏi Hạ Uyên 3 cách hiệp vần (vần liền, vần chéo, vần ôm) rồi em làm theo. Ðề tự chọn (cũng như đánh số Ðề vậy mà!). Rồi em đưa thầy coi. Bây giờ để thầy đi mở cổng tiếp khách.
      (1) Bài thơ  à Hélène của Ronsard:
      Quand vous serez bien vieille, au soir, à la chandelle
      Assise auprès du feu, devidant et filant
      Lisant, chantant mes vers en vous émerveillant
      Ronsard me célébrait du temps que j'etais belle
       
      Tạm dịch:   Khi em già đi, buổi tối dưới ánh đèn
                         Ngồi cạnh lò sưởi vừa quay tơ kéo sợi
                         Em đọc thơ anh, ngâm nga và ngạc nhiên
                         Ronsard đã ca tụng ta khi ta đang đẹp.
      Bài 9: Thể thơ mới (tiếp theo)
      Võ Hồng  -  Bé học làm thơ 
      Buổi chiều Hạ Uyên được chị phái cầm tờ kết quả (lại y như kết quả xổ số kiến thiết). Tôi đọc:
      Hai người bạn nhỏ  (vần liền)
      Sát nhà tôi, có Thanh Hải, Nhật Thành
      Ðứa mập, đứa gầy, nhưng rất thông minh
      Sáng sáng đèo xe đem gởi nhà trẻ
      Mặt mày buồn thiêu vì phải xa mẹ.
       
      Nhớ Ba  (vần chéo)
      Con nhớ lắm, con nhớ nhiều... Ba đó
      Ở nơi xa, Ba có nhớ con không?
      Những buổi trưa mưa, những chiều lộng gió
      Con nhớ Ba, nhớ quá, nhớ vô cùng
       
      Dòng sông quê hương   (vần ôm)
      Sáng hôm nay em đứng lặng nhìn sông
      Dòng nước trắng mênh mông im lặng chảy
      Hai bên bờ, gió lay hàng lau sậy
      Nằm xa xa, xanh mướt những ruộng đồng
       
      Tôi nói vói qua rào:
       
      - Vậy là Trúc đã giàu rồi. Biết 4 cách để làm thơ Mới. Mà phàm cái gì đã gọi là Mới thì nó có quyền và có bổn phận phải mới hoài. Như có một cách này ông Xuân Diệu hay dùng: chữ chót của câu 4 vần Trắc sẽ hiệp vần với chữ chót câu 1 của đoạn thơ tiếp sau. Ðây:
       
      Là thi sĩ nghĩa là ru với gió
      Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây
      Ðể linh hồn ràng buộc với muôn dây
      Hay chia xẻ bởi trăm tình yêu mến
             .....
      Ðây là quán tha hồ muôn khách đến
           ......
       
      Có ông đặt câu thơ chỉ 2 chữ:
       
      Sương rơi
      nặng trĩu
      trên cành
      dương liễu
       ......
       
      Có ông xếp bài thơ thành hình thoi:
       
      Mưa
      Lưa thưa
      Ai  khóc tả  tơi
      Giọt   lệ  tình  đau  xót
         .....
      Long lanh trong tim hoa
      Ai   ươm   mơ   sầu
      Ôi mong manh
      Trong tim
      Ta
      - Nhưng thôi, biết chơi đại khái vậy là đủ rồi.
      Im lặng một giây. Chợt giọng Trúc bên kia rào:
      - Thầy này.  ....   Khi tìm chữ để hiệp vần, nhiều ý mình định nói thì chữ dùng lại không chịu hiệp đúng vần, nên con chắc người làm thơ nhiều khi đành nói sai sự thiệt. Buổi sáng chia tay nghe tiếng bìm bịp kêu, nhưng vì câu trên là "lệ buồn hoen mắt người đi", phải hiệp vần i nên đành lấy con chim họa mi thay con chim bìm bịp: "Thôn xa vẳng tiếng họa mi đổ dồn". Ði trong vườn phải vạch lách nhánh lá, nhưng vì cần vần Bằng mà đành đổi lại là nâng niu cành hoa! Do vậy khi đọc thơ, con khen tác giả có tài, khéo lựa chữ hay, tạo dựng hình ảnh đẹp chớ con chưa tin đó là sự thấy thiệt, cảm xúc thiệt.
      Tôi thật không ngờ cô bé giỏi Toán giỏi Lý mà lại cũng tinh tế về văn chương như vậy. Cô Hélène trong bài thơ của Ronsard, khi già ngồi bên lò sưởi dưới ánh đèn, có thể vừa quay tơ vừa đập muỗi, nhưng vì chữ đập muỗi trong tiếng Pháp chiếm tới 3-4 âm chẳng hạn mà số âm còn thiếu chỉ có 2, nên ông phải dùng chữ kéo sợi, 2 âm để thay.
      Nhìn Trúc hôm nay làm dáng có băng đô hồng, tôi đùa:
      - Nhưng khi làm thơ tặng "ảnh" thì không được vì kẹt vần, dùng chữ vụng mà làm ảnh buồn. Chẳng hạn:
      Yêu anh, em nhớ giọng hò
      Nghe du dương tựa... tiếng bò đòi rơm 
      Trúc và tôi cùng cười. Tôi tiếp:
      - Chỉ vì kẹt vần thôi, nhưng mà "ảnh" đâu có chịu hiểu dùm. Em muốn ví giọng "ảnh" du dương như giọng Ngọc Sơn, giọng Tú Trinh, nhưng âm ƠN (Sơn) âm INH (Trinh) đâu có hiệp vần được với O (hò)? Khổ quá!
      Trúc mắc cỡ:
      - Thầy thiệt!

TB:
Hết phần "Bé Học Làm Thơ"
Đây là tâm huyết của Lộc Bắc & Mai Hữu Thọ đối với HẬU DUỆ
Mong rằng Hậu Duệ cố gắng học & hành để trở thành những Thi Sĩ rạng danh trong tương lai .




Về Đầu Trang
MAI THO



Ngày tham gia: 20 Apr 2011
Số bài: 5760

Bài gửiGửi: Sat Jun 01, 2013 12:34 pm    Tiêu đề: DS, THI SĨ LỘC BẮC




XIN GIỚI THIỆU VỚI ĐẠI GIA ĐÌNH DUY TÂN VÀ THÂN HỮU, CHÂN DUNG CỦA "DS KIÊM THI SĨ LỘC BẮC", NGƯỜI QUAN TÂM RẤT NHIỀU ĐẾN HẬU DUỆ CỦA CHÚNG TA . (NGƯỜI ĐỨNG GIỮA TRONG HÌNH).
MHT


Về Đầu Trang
MAI THO



Ngày tham gia: 20 Apr 2011
Số bài: 5760

Bài gửiGửi: Wed Jun 26, 2013 3:45 pm    Tiêu đề: BÉ HỌC LÀM THƠ

I. TIẾNG BẰNG, TIẾNG TRẮC

Theo chữ Quốc Ngữ , thì Tiếng BẰNG là những tiếng có giọng êm dịu và có thể đọc kéo dài ra được, như chữ không có dấu huyền (bằng  cao), và chữ có dấu

huyền  (bằng thấp) .   Tiếng TRẮC là những tiếng có giọng ngắn ngủn , không đọc dài ra được, như những tiếng có chữ C , CH , P , T đứng ở cuối tiếng và

những tiếng có dấu sắc, ngã , hỏi, nặng .   Vì âm hưởng tiếng Bằng và tiếng Trắc , khác nhau như thế cho nên phải xếp những tiếng ấy cho khéo thì mới tạo

thành ra một thứ âm  điệu nghe hay và dễ đọc . Nếu không, khì đọc lên sẽ sượng và nghe chướng tai .  


II. TIẾNG BỔNG TIẾNG TRẦM

Trong những tiếng bằng và tiếng Trắc , tiếng nào cũng có thứ tiếng BỔNG và tiếng TRẦM .

1. Tiếng BỔNG trong tiếng Bằng là những tiếng KHÔNG có dấu

Ví dụ: chữ La

Tiếng TRẦM là những tiếng Có dấu huyền.

Ví dụ: chữ Là

Khi ta đọc chữ La và chữ Là tuy hai chữ cùng là tiếng bằng, song hai chữ đó có âm giọng khác nhau, chữ Là nghe thấp giọng hơn chữ La


2. Tiếng BỔNG trong tiếng Trắc là những tiếng có dấu sắc và  dấu ngã

Ví dụ: Lá , Lã

Tiếng TRẦM là những tiếng có dấu hỏi và đấu nặng

Ví dụ: Lả , Lạ

Nếu chúng ta biết sắp xếp đúng tiếng Trầm và tiếng Bổng thì bài thơ nghe du dương hơn . Dầu vậy khi làm thơ Lục Bát . Nếu trong câu Bát chữ thứ 6 là tiếng

Trầm thì chữ thứ 8 phải là tiếng Bổng và ngược lại.


III. VẦN

1. Làm thơ thì phải có vần thì đọc nghe êm và trôi chảy . VẦNnghĩa là tiếng này với tiếng kia có cùng âm-hưởng.

Tiếng bằng vần với  tiếng bằng, tiếng trắc vần với tiếng trắc, khi hai tiếng đồng một giọng phát âm thì thành vần được.

Hai tiếng không đúng vần với nhau thì âm điệu sẽ lạc như vậy là trái luật thơ


- Những tiếng có chữ nguyên âm như: a, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư đứng ở cuối tiếng, thì theo tiếng bằng tiếng trắc mà vần với tiếng khác cũng có một chữ nguyên-

âm đồng loại đứng ở cuối tiếng

- Những tiếng có chữ phụ âm như: c, ch, m, n, ng, nh, p, t đứng cuối tiếng, thì nhất định phải vần với tiếng khác cũng có phụ-âm đồng loại đứng ở cuối tiếng


2. Mỗi loại vần ấy lại chia ra làm hai thứ vần, là vần chính và vần thông

a.Vần chính

• Vần chính của vần bằng - là những tiếng cùng đồng một âm vần với nhau như: ơ vần với ơ, ân vần với ân hay uôn vần với uôn

Ví dụ:

Hôm nay tôi học làm thơ

Ðọc xong đường luật muốn mờ mắt luôn

Khi làm thơ phải cho suông

Luật thơ Bằng Trắc vô khuôn Âm Vần


• Vần chính của vần trắc- là những tiếng cùng đồng một âm vần trắc với nhau như : ở vần với ở , ước vần với ước

Ví dụ:

Nhìn cúc tím vàng tươi chợt nở

Giống tình anh mới trở cơn say

Anh ở đó luôn chờ đợi ước

Mùa Thu nào sẽ bước bên nhau


b. Vần thông

Vần thông là những tiếng tuy không cùng một âm như các vần chính , nhưng có thể hợp để vần với nhau , do nơi sự vận dộng của môi và lưỡi khi phát âm

nghe gần như giống nhau nên người ta gọi là vần thông .

Sau đây là những vần ta có thể thế vô cho vần để được linh hoạt hơn trong khi làm thơ .

• Vần thông của vần bằng

- Những vần thông có chữ nguyên-âm đứng ở cuối tiếng

Vidụ a, ơ --> thông với nhau được

Vần thông ghép chữ như là

Đi chung được với chữ tờ này đây

Ví dụ: ơ, ư

Ơ Ư cũng dễ lắm cơ

Bây giờ bạn ráp chữ thư được mà

Ví dụ: e, ê, i

Nhờ E có nghĩa là nhe

Gờ hÌ ta có ôm ghì đầu thôi


có ai nhức đầu hong vậy ?

Thêm câu hỏi cái chữ gì ?

Vì vô đây học nhớ về vần thông


Ví dụ: o, ô, u

Hôm nay trời có mưa to

Nhớ mở nắp hồ cho nước chảy vô (lục bát biến thể )

Đầy rồi thì hứng thêm lu

Phòng khi cúp nước khỏi lo sợ gì

Ví dụ: ai, ay

Mong rằng trời nắng ngày mai

Bao nhiêu bạn đến hăng say làm bài

ai, oi, ôi, ơi, ươi, ui

ao, eo, êu, iêu, iu, ưu


- Những vần thông có phụ âm đứng cuối tiếng

am, ơm --> đi chung với nhau được

ăm, âm

êm, im

an, ơn

ăn, ân, uân

en, in, iên, uyên

on, ôn, uôn

on, un

ang, ương --> nhưng không đi được với uông

ăng, âng , ưng

ong, ông, ung

uông, ương

anh, ênh, inh --> đi chung với nhau được


• Vần thông của vần trắc

é, ị --> đi chung với nhau được

ổ, ũ

ọ, ủa

ĩa, uệ

áo, iễu

ói, ủi

ác, ước

ấc, ực

ạm, ợm

ặn, ẩn

óng, úng

ật, ắt

ật, ứt

út, uốt


** Có bốn điều hệ-trọng nên nhớ trong sự gieo vần quốc-ngữ

1.- Trong sự gieo vần quốc-ngữ, có ba âm: a, ă, â ghép với một phụ-

âm (c, m, n, p, t) thành một âm ghép như:

ac, ăc, âc

am, ăm, âm

an, ăn, ân

ap, ăp, âp

at, ăt, ât

Những vần ghép ấy chỉ thông được với nhau khi có cùng một phụ âm đứng trước

ví dụ:Bát thông được với bắt, bất mà không thông được với cắt , cất,

mắt, mất

Lam đi với lăm, lâm, nhưng không thông với băm, bâm, trăm, trâm

Quan đi với quăn, quân, nhưng không thông với chăn, chân, nhăn, nhân v.v... Đó là do cách hiệp vận do âm-điệu điều-hoà mà thành lệ


2.  . Khi có vần ghép bằng hai hay ba chữ nguyên-âm với một phụ-

âm đứng cuối như: iên, uyên, uân, uôn, thì người ta lấy hai chữ cuối cùng làm vận căn mà gieo vần, cho nên

en, in vần với yên, uyên

ân vần với uân

ơn vần với oan

on vần với uôn

. khi có vần ghép bằng hai chữ nguyên-âm với hai chữ phụ-âm đứng cuối như ương, thì người ta lấy ba chữ cuối cùng làm vận căn mà gieo vần, cho nên

ang thông với ương, uông thông với ương nhưng không thông với ang, vì a không thông được với ô


3.- Khi có vần ghép bằng hai hay ba nguyên-âm đứng cuối thì người ta theo âm điệu mà lấy một hay hai chữ nguyên âm làm vận căn, như:

oa, oe, uê, uy thì vận căn ở chữ a, e, ê, y, cho nên

oa vần với a

oe vần với e

uê vần với ê

uy vần với i

uây vần với ây

Những vần ia, uya, ua, ưa , thì vận căn lại ở chữ i, y, u, ư (uu tien hon van a) mà chữ a đứng ở cuối tiếng không có ảnh-hưởng gì cả .

4.- Hai tiếng đồng âm và đồng nghĩa thì không vần được với nhau, song hai tiếng tuy đồng âm mà khác nghĩa, tức là hai tiếng khác

nhau, thì vần với nhau được

LỘC BẮC
(Sưu tầm)

Về Đầu Trang
MAI THO



Ngày tham gia: 20 Apr 2011
Số bài: 5760

Bài gửiGửi: Wed Jul 03, 2013 1:06 pm    Tiêu đề: THỬ ĐỀ NGHỊ MỘT PHƯƠNG PHÁP CHẤM CÂU & ĐÁNH DẤU TIẾNG VIỆT CHO TRANG MẠNG

THỬ ĐỀ NGHỊ MỘT PHƯƠNG PHÁP CHẤM CÂU & ĐÁNH DẤU TIẾNG VIỆT CHO TRANG MẠNG

Lời nói đầu

Sau một thời gian làm công việc hiệu đính cho một số trang mạng tiếng Việt, chúng tôi nhận

thấy có nhu cầu phải có một phương cách chấm câu nào đó khả dĩ được nhiều người chấp nhận

nhất nhằm giúp cho việc hiệu đính của các ban biên tập được dễ dàng hơn.

Do đó, chúng tôi xin mạn phép đề nghị một số tiêu chuẩn để đánh dấu và chấm câu cho tiếng

Việt dựa vào những điều như sau:

-Thói quen viết quốc ngữ ngày nay, so sánh với thói quen thời trước.

-Sự hợp lý và tiện lợi khi đề ra những tiêu chuẩn này.

-Tiêu chuẩn APA (American Psychological Association) đã được hầu hết các trường đại học tại

Hoa Kỳ và trên thế giới chấp nhận để làm các công việc khảo cứu bằng tiếng Anh. APA cũng là

một trong những tiêu chuẩn hiện được chương trình Microsoft Word áp dụng trong chức năng

thiết lập danh sách tài liệu tham khảo tự động.

Kính mong được sự góp ý của mọi người.

Sau đây là một số trường hợp mà chúng tôi nhận thấy các tác giả thường chưa thống nhất với

nhau về cách viết tiếng Việt trên trang mạng.


1. Cách sử dụng khoảng cách giữa các từ ngữ với nhau (space, punctuation)

-Thông thường là 1 khoảng cách (space) giữa các từ ngữ với nhau.

-Các dấu như dấu chấm (.), dấu phết (,), chấm phết (;), dấu hỏi (?), dấu than (!), dấu hai chấm (Smile,

các dấu mở ngoặc đơn hay ngoặc kép, v.v... được đặt ngay đằng trước hay đằng sau từ ngữ mà

không có khoảng cách. Ví dụ:

Chúng tôi (anh và tôi) muốn sống. Không viết: Chúng tôi ( anh và tôi ) muốn sống .

-Sau các dấu chấm kể trên, để một khoảng cách mà thôi. Ví dụ:

Chúng tôi, muốn sống. Không viết: Chúng tôi,  muốn sống .

Giải thích lý do: Nếu những dấu chấm, dấu phết… không nằm sát đằng sau từ ngữ thì sẽ có thể

xảy ra trường hợp computer ngắt dòng sai, mang dấu chấm, dấu phết… xuống đầu hàng dưới.

Cũng để tránh tình trạng này, dấu mở và đóng ngoặc đơn hay ngoặc kép phải được đặt sát từ ngữ

nằm bên trong ngoặc. Ngoài ra, nếu vô tình hay cố ý để nhiều khoảng cách trắng (blank space)

giữa các chữ, khi computer so lề phải cho thẳng hàng sẽ kéo chúng dãn ra, những chữ vì thế sẽ đứng rời rạc.


2. Dấu chấm câu trong ngoặc kép ("...")

-Có 2 phương pháp đánh dấu trong ngoặc kép, theo lối British style (và Âu Châu nói chung)

là bỏ dấu ngoài hay trong ngoặc kép tùy theo nội dung và ý nghĩa của câu văn, và theo lối

American style là luôn luôn bỏ dấu ở trong ngoặc kép.

-Lối British style (hiện còn sử dụng trong những văn thư có tính cách pháp luật) có qui tắc là nếu

dấu chấm câu thuộc nội dung của câu văn, ví dụ: Anh ba nói: "Anh ăn cơm chưa?" thì dấu chấm

hỏi nằm ở trong ngoặc kép. Nếu dấu chấm không thuộc nội dung của câu văn thì lại nằm ở ngoài.

Ví dụ: Tôi đáp: "Tôi ăn cơm rồi".

-Có lẽ vì những rắc rối kể trên nên lối American style qui định bỏ tất cả những dấu chấm vào

trong ngoặc kép. Một lý do giải thích qui tắc này nữa là vì thời xưa khi làm bản vỗ in bằng kim

loại, dấu chấm (.) và dấu phẩy (,)dễ bị gãy hoặc méo nếu để ngoài dấu (") vì sẽ có một khoảng

trống tiếp theo đó. Vì vậy các nhà in typography bỏ vào trong cho tiện.

-Chúng tôi xin đề nghị sử dụng theo lối thứ hai (American style) vì tiện lợi và hầu hết các sách

báo, công trình nghiên cứu của các trường đại học viết bằng tiếng Anh đều sử dụng qui tắc này.

-Như vậy, các dấu như dấu chấm (.), dấu phết (,), dấu hỏi (?), dấu than (!),  ở tận cùng sẽ được

đặt trong ngoặc kép, không đặt ngoài ngoặc kép. Ví dụ:

"Chúng tôi muốn sống." Không viết "Chúng tôi muốn sống".


3. Sử dụng 3 chấm (...), 3 dấu than (!!!) hoặc 3 chấm hỏi (???)

-Hạn chế sử dụng nhiều hơn 3 chấm hay 3 chấm than trừ phi trong những trường hợp thật đặc

biệt muốn nhấn mạnh. Ví dụ:

Chúng tôi muốn sống!!! Không viết: "Chúng tôi muốn sống!!!!!" hoặc "Chúng tôi muốn

sống......" hoặc "Chúng tôi muốn sống????"


4. Sử dụng gạch nối

-Tiếng Việt ngày xưa (cho tới đầu thập niên ‘60) rất thường sử dụng gạch nối cho những chữ kép

và tên riêng. Ví dụ: Trường Y-khoa, băn-khoăn, buồn-bã, Nguyễn-văn-Quang, v.v...

-Tuy nhiên khi máy chữ đã trở thành thông dụng, người ta nhận ra là gạch nối làm giảm tốc độ

đánh máy và làm người đánh máy mệt hơn. Khi sắp chữ và sửa bản vỗ (morasse), gạch nối cũng

làm tốn thời gian rất nhiều. Vì thế người ta có khuynh hướng  bỏ dần hoặc hạn chế việc dùng

gạch nối như kể trên, đưa đến lối viết hiện nay là không còn gạch nối nữa, trừ một số trường hợp

thật đặc biệt muốn nhấn mạnh sự liên quan giữa các chữ với nhau. Ví dụ: Y-Võ-Nhạc, hoặc Y-Nha-Dược, v.v...

Theo ý tôi, chúng ta cũng nên theo quy tắc bất thành văn này.


5. Sử dụng chữ hoa

-Nguyên tắc chung là những tên riêng hoặc có ý nghĩa tên riêng được viết Hoa từng chữ một.

Ví dụ: Nguyễn Văn Quang, không viết Nguyễn văn Quang.

-Họ Việt thường chỉ có một chữ nhưng nếu là hai chữ thì nên viết có gạch nối. Ví dụ: Phạm-Gia Cổn

hay Hoàng-Cơ Lân. Tuy nhiên, để tiện lợi, viết không có gạch nối cũng được vì người đọc khó biết

chữ thứ nhì là họ hay là tên lót.

-Một số cụm chữ có ý nghĩa tên riêng nên được viết chữ Hoa từng chữ như: Trường Quân Y, Sư

Đoàn Nhẩy Dù, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Không viết Trường Quân y, Sư đoàn nhẩy dù,

hay Quân lực Việt nam Cộng hòa...

-Đối với những cụm từ không có ý nghĩa tên riêng thì nếu cần, chỉ viết hoa chữ đầu (dù không

phải là đầu câu). Ví dụ: Y sĩ Đại tá Hoàng Cơ Lân là cựu Chỉ huy trưởng Trường Quân Y Quân

Lực Việt Nam Cộng Hòa.


6. Cách ngắt đoạn trên trang mạng

-Khác với cách viết thông thường, các trang mạng nên cố gắng sử dụng xuống hàng và bỏ một

hàng càng nhiều càng tốt.

-Chúng tôi nhận thấy các trang mạng tiếng Anh thường xuống hàng và bỏ một hàng chỉ sau một

hay hai câu. Điều này giúp cho bài viết được sáng sủa, không làm mỏi mắt người xem.

-Người đọc bài trên mạng có khuynh hướng đọc thật nhanh, với mục đích  nắm bắt ý chính chỉ

qua một cái liếc mắt. Một đoạn văn dài quá sẽ không hấp dẫn người đọc, họ sẽ không đọc tiếp

hay bỏ đi, bài viết vì thế trở nên mất tác dụng. Người viết bài cho các trang mạng cũng nên biết

sự khác biệt giữa báo mạng mang tính thông tin và báo giấy (hay báo mạng mang tính chuyên khoa)

để dùng cách hành văn và ngắt đoạn thích hợp cho từng loại bài.


7. Sử dụng tài liệu tham khảo (References)

Sử dụng tài liệu tham khảo (References) theo đúng qui tắc APA giáo khoa khá phức tạp và cầu kỳ,

chúng tôi xin đề nghị một phương pháp đơn giản hơn:

-Liệt kê các sách, tạp chí, trang mạng đã tham khảo ở cuối bài viết.

-Thứ tự chi tiết liệt kê là: tên tác giả, năm, tên sách (viết nghiêng), lần xuất bản (nếu có), và nhà

xuất bản. Ví dụ:

Venes, D. (2001). Taber's cyclopedic medical dictionary (19th ed.). Philadelphia: F.A.Davis Company.

Nếu tác giả là người Việt, có thể viết:

Trần Văn Tích (1993). Nho Y Nguyễn Đình Chiểu (tái bản lần thứ hai). Nhà xuất bản An Tiêm.

-Nếu là trang mạng không có tên tác giả, viết tên của trang mạng, năm, tựa bài (viết nghiêng),

truy cập ngày. Ví dụ:

National Osteoporosis Foundation. (2004). Fast facts. Retrieved October 15, 2004,

from http://www.nof.org

Nếu là trang mạng tiếng Việt, có thể viết:

Diễn Đàn Cựu Sinh Viên Quân Y (2012). Thư mời tham dự Đại Hội Y-Nha-Dược Sĩ Việt Nam kỳ

VIII. Truy cập ngày 26-6-2012 tại:

http://www.svqy.org/6-2012/daihoiMelbourne.html

-Có thể đánh dấu trích dẫn trong bài viết bằng những dấu hiệu như (*) (**) (***), (1) (2) (3)

hoặc [1] [2] [3]...

Tham Khảo

Cornell University Library (2012). APA Citation Style. Truy cập ngày 27/5/2012 tại:

http://www.library.cornell.edu/resrch/citmanage/apa

GrammarBook.com (2012). English Rules. Truy cập ngày 27/5/2012 tại:  

http://www.grammarbook.com/english_rules.asp

Grammar.ccc.commnet.edu (2012). Quotation Marks. Truy cập ngày 30/5/2012 tại:

http://grammar.ccc.commnet.edu/grammar/marks/quotation.htm

Wikipedia (2012). Quotation mark. Truy cập ngày 27/5/2012 tại: http://en.wikipedia.org/wiki/

Quotation_mark

Wikipedia (2012). Space (puntuation). Truy cập ngày 27/5/2012 tại: http://en.wikipedia.org/

wiki/Space_(punctuation)

Cảm ơn bạn Lý Văn Quý về một đề nghị tốt.  

Cá nhân tôi đã học qua lớp đánh máy ở một đại học Mỹ nên tôi quen thói, quen tay đánh máy theo bài

bản đã học (chưa chắc đã là hoàn hảo):

1.  Sau dấu chấm cách 2 khoảng, sau dấu phảy cách 1 khoảng.  

Thí dụ: Tôi muốn sống, sống thật vui, thật khỏe mạnh.  Tôi ăn kiêng, thể dục.

2.  Tên và chức vụ, đề tài các bài thơ, bản nhạc... tôi viết hoa như lối viết đề tài của báo giấy.  

Thí dụ: Y Sĩ Đại Úy Phạm Gia Cổn, Y Sĩ Trưởng Lữ Đoàn 2, Sư Đoàn Nhảy Dù hay

Trận Chiến Vùng 2 Chiến Thuật hay Riêng Một Góc Trời


3.  Tôi không thích và ít dùng gạch nối trừ vài trường hợp tên riêng kép như trong giấy tờ di trú phải nối 2

chữ bằng gạch nối để tạo thành một chữ.

Thí dụ:  Nguyễn (last name) Thị (middle name) Bạch-Nga (first name) hay

Martinez-Hernandez (last name) Luis (first name) Gutierrez (middle name).  Dân Nam Mỹ thường

có 2 last name.    

4.  Trong bài văn xuôi, đàm thoại tôi dùng dấu phảy, không dùng hai chấm.

Thí dụ: Bạn tôi hỏi, "Hôm 15 tháng 4 bạn có về dự họp khóa 1971 không?"  Tôi đáp, "Thưa không vì tôi

còn quá bận với phòng mạch đông khách."  

Ít khi tôi viết: Bạn tôi hỏi: "Bạn khỏe không? Chừng nào về hưu?"  Tôi đáp: "Mới 70 mà về hưu cái nỗi gì.  

Bảy mươi còn là một chàng trai! He, he!"  

Vài lời góp ý.  Mong được chỉ dẫn.  

Nguyễn Trác Hiêu

(Lộc Bắc sưu tầm)
Về Đầu Trang
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    TRUNG HỌC DUY TÂN - PHAN RANG -> Sinh Hoạt của hậu duệ trung học Duy Tân Thời gian được tính theo giờ EST (U.S./Canada)
Trang 1 trong tổng số 1 trang



 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


    
Powered by phpBB © 2001, 2005 phpBB Group
Diễn Đàn Trung Học Duy Tân